Mở đầu: Mạng máy tính ra đời xuất phát từ nhu cầu chia sẻ, dùng chung tài nguyên, giao tiếp trực tuyến và sử dụng các ứng dụng đa phương tiện trên mạng. Tài nguyên gồm có tài nguyên phần mềm (dữ liệu, chương trình ứng dụng, .) và tài nguyên phần cứng (máy in, máy quét, CD ROM,…). Giao tiếp trực tuyến là gửi và nhận thông điệp, thư điện tử. Các ứng dụng đa phương tiện có thể là phát thanh, truyền hình, điện thoại qua mạng, hội thảo trực tuyến, nghe nhạc, xem phim trên mạng.
Trước khi có mạng máy tính, tài nguyên phần cứng của mỗi máy tính chỉ có thể sử dụng cho máy tính đó và không thể chia sẻ, dùng chung bởi các máy tính khác. VD: Để có thể dùng chung máy in thì người sử dụng phải thay phiên nhau ngồi trước máy tính được nối với máy in. Khi máy tính được nối mạng thì tất cả mọi người ngồi tại các vị trí khác nhau đều có thể sử dụng máy in đó. Mô hình các máy tính đơn lẻ được kết nối lại để cùng thực hiện công việc, chia sẻ tài nguyên đã hình thành một môi trường làm việc phân tán, cho phép nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên chung.
Mạng máy tính ngày nay đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu phát triển và ứng dụng cốt lõi của Công nghệ thông tin. Lịch sử mạng máy tính: Máy tính của thập niên 1940 là các thiết bị cơ-điện tử lớn và rất dễ hỏng. Sự phát minh ra transitor bán dẫn vào năm 1947 là tiền đề để làm ra chiếc máy tính nhỏ và đáng tin cậy hơn. Năm 1950, các máy tính lớn mainframe chạy bởi các chương trình ghi trên thẻ đục lỗ (punched card) bắt đầu được dùng.
Tuy điều này tạo nhiều thuận lợi do máy tính có khả năng được lập trình nhưng cũng có rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra các chương trình dựa trên thẻ đục lỗ này. Vào cuối thập niên 1950, người ta phát minh ra mạch tích hợp (IC) chứa nhiều transitor trên một mẫu bán dẫn nhỏ, đây là một bước nhảy vọt trong việc chế 6 Hệ thống quản trị mạng dựa trên Mô hình tác tử NSD và Chức năng của dịch vụ tạo các máy tính mạnh hơn, nhanh hơn và nhỏ hơn. Đến nay, IC có thể chứa hàng triệu transistor trên một mạch. Vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, các máy tính nhỏ hay minicomputer bắt đầu xuất hiện.
Năm 1977, công ty máy tính Apple Computer giới thiệu máy vi tính được gọi là máy tính cá nhân (personal computer – PC). Năm 1981, IBM đưa ra máy tính cá nhân đầu tiên. Sự thu nhỏ ngày càng tinh vi hơn của các IC làm cho việc sử dụng máy tính cá nhân tại nhà và trong kinh doanh ngày càng rộng rãi. Vào giữa thập niên 1980, người sử dụng máy tính bắt đầu chia sẻ các tập tin bằng cách dùng modem kết nối với các máy tính khác.
Kiểu kết nối này được gọi là điểm nối điểm, hay truyền theo kiểu quay số. Khái niệm này được mở rộng bằng cách dùng các máy tính là trung tâm truyền tin trong một kết nối quay số. Các máy tính này được gọi là sàn thông báo (bulletin board). Các người dùng kết nối đến sàn thông báo này, để lại đó hay lấy đi các thông điệp, cũng như gửi lên hay tải về các tập tin.
Hạn chế của hệ thống là có rất ít hướng truyền tin, và chỉ với những ai biết về sàn thông báo đó. Ngoài ra, các máy tính tại sàn thông báo cần một modem cho mỗi kết nối, khi số lượng kết nối tăng lên, hệ thống không thể đáp ứng được nhu cầu. Qua các thập niên 1950, 1970, 1980 và 1990, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã phát triển các mạng diện rộng WAN có độ tin cậy cao, nhằm phục vụ các mục đích quân sự và khoa học. Công nghệ này khác truyền tin điểm nối điểm.
Nó cho phép nhiều máy tính kết nối lại với nhau bằng các đường dẫn khác nhau. Bản thân mạng sẽ xác định dữ liệu di chuyển từ máy tính này đến máy tính khác như thế nào. Thay vì chỉ có thể thông tin với một máy tính tại một thời điểm, nó có thể thông tin với nhiều máy tính cùng lúc bằng cùng một kết nối. Sau này, WAN của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã trở thành Internet.
7 Hệ thống quản trị mạng dựa trên Mô hình tác tử NSD và Chức năng của dịch vụ 1. Định nghĩa mạng máy tính: Mạng máy tính là một tập hợp các máy tính được nối với nhau bởi đường truyền theo một cấu trúc nào đó và thông qua đó các máy tính trao đổi thông tin qua lại cho nhau. Đường truyền là hệ thống các thiết bị truyền dẫn có dây hay không dây dùng để chuyển các tín hiệu điện tử từ máy tính này đến máy tính khác. Các tín hiệu điện tử đó biểu thị các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on - off).
Tất cả các tín hiệu được truyền giữa các máy tính đều thuộc một dạng sóng điện từ. Tùy theo tần số của sóng điện từ có thể dùng các đường truyền vật lý khác nhau để truyền các tín hiệu. Ở đây đường truyền được kết nối có thể là dây cáp đồng trục, cáp xoắn, cáp quang, dây điện thoại, sóng vô tuyến. Các đường truyền dữ liệu tạo nên cấu trúc của mạng.
Hai khái niệm đường truyền và cấu trúc là những đặc trưng cơ bản của mạng máy tính. Đường truyền: Đường truyền dùng để chuyển các tín hiệu giữa các máy tính. Các tín hiệu đó biểu thị các giá trị dữ liệu dưới dạng các xung nhị phân (on - off). Tất cả các tín hiệu đó đều thuộc dạng sóng điện từ (trải từ tần số sóng radio, sóng ngắn, tia hồng ngoại).
Ứng với mỗi loại tần số của sóng điện tử có các đường truyền vật lý khác nhau để truyền tín hiệu. Hiện nay có hai loại đường truyền: • Đường truyền hữu tuyến: cáp đồng trục, cáp đôi dây xoắn (có bọc kim, không bọc kim), cáp sợi quang. • Đường truyền vô tuyến: radio, sóng cực ngắn, tia hồng ngoại. Kiến trúc mạng máy tính: Kiến trúc mạng máy tính (network architecture) thể hiện cách nối các máy tính với nhau ra sao và tập hợp các quy tắc, quy ước mà tất cả các thực thể tham gia truyền thông trên mạng phải tuân theo để đảm bảo cho mạng hoạt động tốt.
Cách nối các máy tính được gọi là hình trạng (topolopy) của mạng hay còn gọi là topo mạng. Còn tập hợp các quy tắc, quy ước truyền thông được gọi là giao thức 8 Hệ thống quản trị mạng dựa trên Mô hình tác tử NSD và Chức năng của dịch vụ (protocol) của mạng. Topo và giao thức là hai khái niệm rất cơ bản của mạng máy tính, vì thế chúng sẽ được trình bày cụ thể hơn trong những phần sau: Topo mạng: Có hai kiểu kết nối mạng chủ yếu là điểm - điểm (point-to- point) và quảng bá (broadcast hay point-to-multipoint). Theo kiểu kết nối điểm - điểm, các đường truyền nối từng cặp nút với nhau và mỗi nút đều có trách nhiệm lưu trữ tạm thời sau đó chuyển tiếp dữ liệu đi tới đích.
Do cách làm việc như thế nên mạng kiểu này còn được gọi là mạng lưu và chuyển tiếp (store and forward). Nói chung các mạng diện rộng đều sử dụng nguyên tắc này. Theo kiểu quảng bá, tất cả các nút mạng dùng chung một đường truyền vật lý. Dữ liệu gửi đi từ một nút mạng có thể được tất cả các nút mạng còn lại tiếp nhận chỉ cần chỉ ra địa chỉ đích của dữ liệu để mỗi nút kiểm tra xem có phải là gửi cho mình hay không.
Hình 1: Topo mạng điểm-điểm Hình 2: Topo mạng quảng bá Giao thức mạng: Việc trao đổi thông tin cho dù là đơn giản nhất, cũng đều phải tuân theo những quy tắc nhất định. Việc truyền tín hiệu trên mạng cần phải có những quy tắc, quy ước về nhiều mặt: • Khuôn dạng của dữ liệu: cú pháp và ngữ nghĩa. 9 Hệ thống quản trị mạng dựa trên Mô hình tác tử NSD và Chức năng của dịch vụ • Thủ tục gửi và nhận dữ liệu. • Kiểm soát chất lượng truyền.
• Xử lý các lỗi, sự cố. Tập hợp tất cả các quy tắc, quy ước trên gọi là giao thức mạng. Yêu cầu về xử lý và trao đổi thông tin của người sử dụng ngày càng cao thì giao thức mạng càng phức tạp. Các mạng có thể có giao thức khác nhau tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của nhà thiết kế.
Phân loại mạng máy tính: 1. Phân loại dựa trên khoảng cách địa lý: Nếu lấy khoảng cách địa lý làm yếu tố chính để phân loại thì mạng máy tính được phân thành 4 loại: mạng cục bộ, mạng đô thị, mạng diện rộng, mạng toàn cầu. • Mạng cục bộ (Local Area Networks - LAN): cài đặt trong phạm vi tương đối hẹp (ví dụ như trong một tòa nhà, một cơ quan, một trường học,.), khoảng cách lớn nhất giữa các máy tính nối mạng là vài chục km trở lại. • Mạng đô thị (Metropolitan Area Networks - MAN): cài đặt trong phạm vi một đô thị, một trung tâm kinh tế xã hội, có bán kính nhỏ hơn 100 km.
• Mạng diện rộng (Wide Area Networks - WAN): phạm vi của mạng có thể vượt qua biên giới quốc gia và thậm chí cả lục địa. • Mạng toàn cầu (Global Area Networks - GAN): phạm vi rộng khắp toàn cầu. Mạng Internet là một ví dụ cho loại này. Cần lưu ý rằng: khoảng cách địa lý được dùng làm “mốc” chỉ mang tính tương đối.
Cùng với sự phát triển của các công nghệ truyền dẫn và quản trị mạng thì những ranh giới đó ngày càng mờ nhạt đi. Phân loại dựa trên kỹ thuật chuyển mạch: Nếu lấy “kỹ thuật chuyển mạch” làm yếu tố chính để phân loại thì ta có 3 loại: mạng chuyển mạch kênh, mạng chuyển mạch thông báo và mạng chuyển mạch gói. 10 Hệ thống quản trị mạng dựa trên Mô hình tác tử NSD và Chức năng của dịch vụ Mạng chuyển mạch kênh: Khi có hai thực thể cần trao đổi thông tin với nhau thì giữa chúng sẽ thiết lập một “kênh” cố định và được duy trì cho đến khi một trong hai bên ngắt liên lạc. Các dữ liệu chỉ được truyền theo con đường cố định đó.
Hình 3: Mạng chuyển mạch kênh Nhược điểm: • Tốn thời gian để thiết lập kênh cố định giữa hai thực thể. • Hiệu suất sử dụng đường truyền thấp vì sẽ có lúc kênh bị bỏ không do cả hai bên đều hết thông tin cần truyền trong khi các thực thể khác không được phép sử dụng kênh truyền này.