Nghiên cứu về hệ mã hóa và quyền giải mã linh động trong luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số hệ mã hóa với quyền giải mã linh động, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Chuyên ngành

Hệ thống thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

126
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÃ HÓA QUẢNG BÁ VÀ MÃ HÓA DỰA TRÊN THUỘC TÍNH

1.1. Khái quát chung về mã hóa

1.2. Định nghĩa và mô hình an toàn của hệ mã hóa quảng bá

1.3. Khái quát về một số hệ mã hóa quảng bá quan trọng và tình hình nghiên cứu hiện nay

1.4. Hệ mã hóa NNL và các cải tiến

1.5. Hệ mã thứ nhất NNL-1

1.6. Hệ mã thứ hai NNL-2

1.7. Hệ mã hóa BGW và các cải tiến

1.8. Công cụ ánh xạ song tuyến

1.9. Một số cải tiến của hệ mã BGW

1.10. Hệ mã hóa Delerablee và các cải tiến

1.11. Tình hình nghiên cứu hiện nay của Mã hóa quảng bá

1.12. Mã hóa quảng bá đa kênh và mã hóa dựa trên thuộc tính

1.13. Tổng quan về mã hóa quảng bá đa kênh

1.14. Tổng quan về Mã hóa dựa trên thuộc tính

1.15. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: MÃ HÓA QUẢNG BÁ ĐA KÊNH

2.1. Định nghĩa và mô hình an toàn của hệ mã hóa quảng bá đa kênh

2.2. Mô hình an toàn

2.3. Một số hệ mã hóa quảng bá đa kênh quan trọng

2.4. Hệ mã hóa quảng bá đa kênh - MCBE1

2.5. Hệ mã hóa quảng bá đa kênh - MCBE2

2.6. Một số cải tiến đối với hệ MCBE1 và MCBE2

2.7. Lược đồ mã hóa quảng bá đa kênh đề xuất

2.7.1. Ý tưởng xây dựng

2.7.2. Lược đồ mã hóa đề xuất và so sánh

2.7.3. Đánh giá an toàn

2.7.4. Cài đặt và đánh giá hiệu quả

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: HỆ MÃ HÓA DỰA TRÊN THUỘC TÍNH

3.1. Định nghĩa và mô hình an toàn của hệ mã hóa dựa trên thuộc tính

3.2. Mô hình an toàn

3.3. Một số hệ mã hóa dựa trên thuộc tính nền tảng quan trọng hiện nay

3.3.1. Hệ mã hóa dựa trên thuộc tính của Rouselakis-Waters năm 2013

3.3.2. Hệ mã hóa dựa trên thuộc tính của Agrawal-Chase17

3.4. Mã hóa dựa trên thuộc tính (CP-ABE-01) đề xuất

3.4.1. Ý tưởng xây dựng

3.4.2. Mã hóa đề xuất và so sánh

3.5. Đánh giá an toàn

3.6. Cài đặt và đánh giá hiệu quả

3.7. Đề xuất thứ hai (CP-ABE-02) về mã hóa dựa trên thuộc tính

3.7.1. Ý tưởng xây dựng và so sánh

3.7.2. Lược đồ mã hóa đề xuất thứ 2 dựa trên thuộc tính

3.7.3. Đánh giá an toàn dữ liệu

3.7.4. Đánh giá an toàn từ khóa

3.8. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ TRONG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hệ mã hóa

Hệ mã hóa là một công cụ quan trọng trong việc bảo mật thông tin. Nó cho phép người gửi và người nhận trao đổi thông tin một cách an toàn qua các kênh không an toàn. Mã hóa giúp biến đổi thông tin thành dạng không có ý nghĩa, gọi là bản mã, mà chỉ có người nhận mới có khả năng giải mã. Hệ mã hóa có thể được phân loại thành hai loại chính: mã hóa khóa bí mật và mã hóa khóa công khai. Mã hóa khóa bí mật yêu cầu người gửi và người nhận phải chia sẻ một khóa bí mật chung, trong khi mã hóa khóa công khai cho phép người gửi sử dụng khóa công khai của người nhận để mã hóa thông tin mà không cần tiếp xúc trước. Điều này giúp tăng cường tính bảo mật và tiện lợi trong việc trao đổi thông tin.

1.1. Mã hóa khóa bí mật

Mã hóa khóa bí mật là phương pháp mã hóa phổ biến nhất hiện nay, với AES là một trong những hệ thống được sử dụng rộng rãi. Ưu điểm của mã hóa khóa bí mật là tốc độ mã hóa và giải mã nhanh. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là yêu cầu người gửi và người nhận phải có một khóa bí mật chung, điều này không thực tế trong nhiều tình huống. Do đó, mã hóa khóa công khai đã được phát triển để giải quyết vấn đề này.

1.2. Mã hóa khóa công khai

Mã hóa khóa công khai cho phép người gửi sử dụng khóa công khai của người nhận để mã hóa thông tin. Khóa công khai được công bố công khai, trong khi khóa bí mật được giữ kín. Điều này giúp người gửi không cần phải gặp gỡ người nhận để thỏa thuận khóa bí mật. Hệ thống này đã được phát triển bởi Whitfield Diffie và Martin Hellman, và hiện nay có nhiều hệ thống mã hóa khóa công khai như RSA và Elgamal.

II. Hệ mã hóa quảng bá

Hệ mã hóa quảng bá (BE) cho phép một thông tin được mã hóa có thể được giải mã bởi nhiều người dùng khác nhau. Điều này rất hữu ích trong các ứng dụng như truyền hình trả tiền, nơi mà nhiều người dùng cần truy cập vào cùng một nội dung. Hệ thống này cho phép người lập mã chỉ định một tập hợp người dùng có khả năng giải mã thông tin. Hệ mã hóa quảng bá giúp giải quyết vấn đề khi một người dùng không còn quyền truy cập mà không ảnh hưởng đến những người dùng khác.

2.1. Định nghĩa và mô hình an toàn

Mã hóa quảng bá được định nghĩa là một phương pháp cho phép mã hóa thông tin sao cho chỉ một nhóm người dùng nhất định có thể giải mã. Mô hình an toàn của mã hóa quảng bá yêu cầu rằng ngay cả khi kẻ tấn công có được bản mã, họ cũng không thể giải mã thông tin nếu không có khóa bí mật tương ứng. Điều này đảm bảo rằng thông tin vẫn được bảo vệ ngay cả khi bị rò rỉ.

2.2. Ứng dụng của mã hóa quảng bá

Mã hóa quảng bá được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như truyền hình trả tiền, chia sẻ dữ liệu và các mạng xã hội. Nó cho phép nhiều người dùng cùng truy cập vào một nội dung mà không cần phải chia sẻ khóa bí mật. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn tăng cường tính bảo mật cho thông tin.

III. Mã hóa dựa trên thuộc tính

Mã hóa dựa trên thuộc tính (ABE) là một phương pháp mã hóa cho phép điều kiện giải mã linh động hơn so với mã hóa quảng bá. Trong ABE, người lập mã có thể định nghĩa một tập hợp các thuộc tính mà người dùng cần phải có để giải mã thông tin. Điều này giúp giải quyết vấn đề khi người dùng không phải là một nhóm cố định mà có thể thay đổi theo thời gian.

3.1. Định nghĩa và mô hình an toàn

Mã hóa dựa trên thuộc tính cho phép người lập mã xác định các thuộc tính mà người dùng cần có để giải mã thông tin. Mô hình an toàn yêu cầu rằng chỉ những người dùng có thuộc tính phù hợp mới có thể giải mã thông tin. Điều này giúp tăng cường tính linh hoạt và bảo mật cho hệ thống.

3.2. Lợi ích của mã hóa dựa trên thuộc tính

Mã hóa dựa trên thuộc tính mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức, đặc biệt trong việc quản lý quyền truy cập thông tin. Nó cho phép các tổ chức dễ dàng thay đổi quyền truy cập mà không cần phải mã hóa lại thông tin. Điều này rất hữu ích trong các ứng dụng như lưu trữ dữ liệu trên đám mây, nơi mà quyền truy cập có thể thay đổi thường xuyên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ MÃ HÓA QUẢNG BÁ VÀ MÃ HÓA DỰA TRÊN THUỘC TÍNH Phần đầu chương, nghiên cứu sinh giới thiệu chung về ba loại mã hóa cụ thể hiện nay: Thứ nhất là mã hóa quảng bá, thứ hai là mã hóa quảng bá đa kênh và thứ ba là mã hóa dựa trên thuộc tính. Trong phần nội dung, tác giả trình bày chi tiết một số mã hóa quảng bá hiện nay mà luận án nghiên cứu, sau đó trình bày sơ lược kết quả nghiên cứu mới và các vấn đề tồn đọng cần khắc phục đối với ba loại mã này. Khái quát chung về mã hóa Một hệ thống bao gồm thuật toán tạo khóa bí mật, thuật toán mã hóa, thuật toán giải mã được gọi chung là một hệ mã hóa.

Trong đó, một hệ mã hóa mà khóa dùng để mã hóa và khóa dùng để giải mã là như nhau, được gọi là một hệ mã hóa khóa bí mật. Hệ mã hóa khóa bí mật đang được dùng phổ biến nhất hiện nay là AES với các biến thể cho khóa bí mật là 128, 192 và 256 bits. Ưu điểm của mã hóa khóa bí mật là tốc độ mã hóa và giải mã nhanh. Nhược điểm của các hệ này là giữa người gửi và người nhận phải tiếp xúc trước với nhau để thống nhất một khóa bí mật chung, điều này rất khó thực hiện trong môi trường thực tế hiện nay.

Để giải quyết vấn đề trên, hệ mã hóa khóa công khai đã được giới thiệu, trong đó khóa dùng để mã hóa gọi là khóa công khai và khóa dùng để giải mã là khóa bí mật. Khóa công khai của người nhận được công bố trước, mỗi người gửi khi muốn gửi thông tin cho người nhận sẽ dùng khóa công khai này để mã hóa thông tin (không cần tiếp xúc trước với người nhận để thỏa thuận khóa bí mật chung), người nhận sẽ có một khóa bí mật tương ứng với khóa công khai này dùng để giải mã. Như vậy, trong một hệ mã hóa khóa công khai mỗi người dùng (người gửi hoặc người nhận) tham gia hệ thống sẽ có một cặp khóa công khai và bí mật, khóa công khai được công bố công khai trước, trong khi khóa bí mật được giữ bí mật riêng mình. Whitfield Diffie and Martin Hellman có thể được xem là những người đầu tiên đề xuất cụ thể một hệ mã hóa khóa công khai, một số hệ mã hóa khóa công khai hiện được dùng phổ biến hiện nay như hệ RSA hay Elgamal.

luan an 7 Ngày nay, để tận dụng cả hai ưu điểm của mã hóa khóa bí mật và mã hóa khóa công khai, khi gửi thông tin người ta thường dùng hệ mã hóa lai. Với hệ mã hóa lai, trước mỗi lần gửi thông tin người gửi sẽ chọn một giá trị gọi là khóa phiên, tiếp theo họ sẽ dùng khóa công khai của người nhận để mã hóa khóa phiên này, sau đó dùng khóa phiên này như là khóa bí mật trong hệ mã hóa khóa bí mật để mã hóa thông tin. Như vậy, người gửi đã đồng thời dùng cả hai giải thuật mã hóa của hai loại, hệ mã hóa công khai và hệ mã hóa bí mật. Bản mã sẽ bao gồm bản mã của khóa phiên và bản mã của thông tin.

Người nhận, trước tiên dùng giải thuật giải mã của hệ mã hóa khóa công khai để giải mã bản mã của khóa phiên thu về giá trị khóa phiên, sau đó dùng giải thuật giải mã của hệ mã hóa khóa bí mật với khóa phiên chính là khóa bí mật đã biết để giải mã, thu về thông tin. Thông thường, thông tin cần gửi thì rất lớn nhưng giá trị khóa phiên chỉ cần rất bé, do đó với mã hóa lai ta tận dụng được ưu thế của cả hai loại hệ mã hóa bí mật và công khai. Người gửi không cần thống nhất khóa bí mật chung trước với người nhận, thông tin vẫn được mã hóa và giải mã dùng giải thuật của hệ mã hóa khóa bí mật. Các hệ mã đã trình bày ở trên như AES, RSA, Elgamal đều là các mã hóa ở dạng 1-1, tức là với mỗi bản mã chỉ có duy nhất một người có khả năng giải mã.

Hay là quyền giải mã của người dùng bị giới hạn rằng chỉ giải mã được nếu biết khóa bí mật tương ứng với bản mã. Các ứng dụng hiện đại ngày nay như truyền hình trả tiền, mạng xã hội,…Yêu cầu rằng quyền giải mã phải ở dạng linh động hơn. Cụ thể, một hệ mã hóa có quyền giải mã linh động thì với một bản mã, người lập mã có thể tùy ý quy định một nhóm người khác nhau với các khóa bí mật khác nhau đều có thể giải mã được, mã hóa như vậy phải ở dạng 1-n với n > 1. Một trong những hệ mã hóa 1-n hiện nay là hệ mã hóa quảng bá.

Định nghĩa và mô hình an toàn của hệ mã hóa quảng bá Mã hóa quảng bá được giới thiệu bởi Fiat and Naor [28] với mục tiêu tạo ra một hệ mã hóa mà ở mỗi lần mã hóa người mã hóa có thể chọn một tập người dùng tùy ý có thể giải mã được. Trong khi đó, cả độ dài bản mã, độ dài khóa bí mật và tốc độ giải mã khắc phục được nhược điểm về độ dài khóa và độ dài bản mã. luan an 8 “Với hệ mã hóa quảng bá quyền cơ bản nhất của kẻ tấn công là biết bản mã và khóa công khai. Ngoài ra, kẻ tấn công còn có thể có thêm các quyền khác như quyền biết khóa bí mật của các người dùng không có khả năng giải mã (những người dùng này nằm bên ngoài tập S), quyền tùy ý chọn một bản mã và biết bản rõ tương ứng,…”.

Định nghĩa Mã hóa quảng bá được định nghĩa như sau: Khởi tạo (⋋): Đầu vào của giải thuật khởi tạo là tham số an toàn ⋋. Trong đó tham số an toàn ⋋ có nghĩa là để phá được hệ mã này kẻ tấn công cần thực hiện ít nhất 2⋋ phép toán cơ bản nhị phân của máy tính. Đầu ra của giải thuật là khóa công khai và khóa bí mật của hệ thống. Tạo khóa (msk, id, list, param): Đầu vào của giải thuật là khóa bí mật của hệ thống, định danh của người dùng, danh sách các người dùng hiện thời đã được cấp khóa của hệ thống, cuối cùng là khóa công khai của hệ thống.

Nếu định danh của người dùng id là hợp lệ và id ∉ list thì giải thuật sẽ trả về khóa bí mật SKid cho người dùng id, sau đó id sẽ được đưa vào danh sách các người dùng hiện thời đã được cấp khóa của hệ thống. Ngược lại giải thuật sẽ trả về ⊥ (giải thuật ngừng và kết quả đầu ra là null). Mã hóa (S, param): Đầu vào của giải thuật là tập người dùng có khả năng giải mã S và khóa công khai của hệ thống. Đầu ra của giải thuật là khóa phiên làm việc K và bản mã của nó chứa cả S, ký hiệu là Hdr.

Lưu ý rằng, trong thực tế thì khóa phiên làm việc K sau đó sẽ được dùng như khóa bí mật trong hệ mã hóa khóa bí mật (ví dụ AES) để mã hóa dữ liệu. Như vậy, bản mã đầy đủ trong thực tế gọi là sẽ bao gồm cả Hdr và là bản mã của dữ liệu thực tế được mã hóa dưới khóa bí mật. Giải mã (Hdr, SKid, param): Đầu vào của giải thuật là bản mã Hdr của khóa phiên làm việc K, khóa bí mật của người dùng SKid, khóa công khai của hệ thống. Đầu ra của giải thuật là khóa phiên làm việc K nếu như id ∈ S, ngược lại đầu ra của giải thuật là ⊥.

Lưu ý rằng, trong luan an 9 thực tế thì sau khi giải mã tìm được khóa phiên K, người dùng sẽ dùng K như khóa bí mật để giải mã tìm lại dữ liệu thực tế đã được mã hóa. Mã hóa được mã hóa với cơ chế như trên được gọi là hệ mã hóa lai. Lý do hệ mã hóa lai được dùng trong thực tế là do nó tận dụng được cả hai ưu thế của hệ mã hóa khóa công khai truyền thống và hệ mã hóa khóa bí mật. Cụ thể, nhược điểm của mã hóa khóa công khai là có tốc độ mã hóa chậm, trong khi ưu điểm là không cần thống nhất khóa bí mật chung giữa người gửi và người nhận.

Còn nhược điểm của mã hóa khóa bí mật là phải thống nhất trước khóa bí mật chung giữa người gửi và người nhận, trong khi ưu điểm là tốc độ mã hóa nhanh. Hệ mã hóa lai là tận dụng lợi thế của cả hai hệ mã hóa này, cụ thể khóa phiên làm việc K ngắn sẽ được mã hóa bằng hệ mã hóa khóa công khai có tốc độ chậm, còn dữ liệu dài sẽ được mã hóa bằng hệ mã hóa khóa bí mật có tốc độ nhanh dưới khóa phiên K. Như vậy, với đối với mã hóa lai giữa người gửi và người nhận không cần thống nhất trước khóa bí mật chung, dữ liệu được mã hóa bằng hệ mã hóa khóa bí mật. Ở các tài liệu về mã hóa quảng bá [9, 10, 25, 26, 44, 46, 49, 55], để cho đơn giản người ta chỉ xét việc mã hóa và giải mã của khóa phiên làm việc K, do việc mã hóa và giải mã dữ liệu thực tế dùng K như là khóa bí mật là giống nhau ở tất cả các hệ mã hóa quảng bá.

Mô hình an toàn Khi ta nói một hệ mã hóa là an toàn là ta nói một cách chung chung. Còn cụ thể, một hệ mã hóa được chứng minh là an toàn nếu ta cho kẻ tấn công có các quyền A, B, C,.Ví dụ: Với hệ mã RSA thì kẻ tấn công có thể có quyền biết các tham số công khai như tích của hai số nguyên tố p và q, thậm chí biết một số cặp khóa bí mật và công khai,.Và ta chứng minh về mặt toán học rằng để phá được hệ mã thì kẻ tấn công với các quyền A, B, C,. phải giải được một bài toán khó nào đó, ví dụ như bài toán phân tích ra thừa số nguyên tố hay bài toán logarit rời rạc. Với mã hóa quảng bá, quyền cơ bản nhất của kẻ tấn công là biết bản mã và khóa công khai.

Ngoài ra, kẻ tấn công còn có thể có thêm các quyền khác như quyền biết khóa bí mật của các người luan an 10 dùng không có khả năng giải mã (những người dùng nằm bên ngoài tập S), quyền tùy ý chọn một bản mã và biết bản rõ tương ứng,… Khi mô hình hóa quyền của kẻ tấn công, ta gọi đó là mô hình an toàn, còn bài toán khó thì ta gọi là giả thuyết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu về hệ mã hóa và quyền giải mã linh động" của tác giả Trịnh Văn Anh, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Bình và Hồ Văn Hương, được thực hiện tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông vào năm 2021. Bài viết tập trung vào việc phát triển các hệ thống mã hóa với khả năng giải mã linh động, nhằm nâng cao tính bảo mật và hiệu quả trong việc quản lý thông tin. Những điểm chính của nghiên cứu bao gồm các phương pháp mã hóa hiện đại, ứng dụng trong các hệ thống thông tin và cách thức quản lý quyền giải mã một cách linh hoạt. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về các công nghệ mã hóa, cũng như cách thức áp dụng chúng trong thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Tùy Biến Thuật Toán Mã Khối Cho Bộ Thư Viện OpenSSL", nơi khám phá các thuật toán mã hóa và cách tùy biến chúng cho các ứng dụng cụ thể. Bài viết "Cài đặt và thực nghiệm SQLCipher trên hệ điều hành Android cho luận văn thạc sĩ" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng mã hóa trong môi trường di động. Cuối cùng, bài viết "Quản Lý Ngữ Nghĩa Dữ Liệu Mở Liên Kết Sử Dụng Blockchain" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức bảo mật và quản lý dữ liệu trong các hệ thống hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các công nghệ mã hóa và bảo mật thông tin.