MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lí thuyết hàm ngôn là một trong những nội dung cơ bản, là một trong những đối tượng chủ yếu của ngữ dụng học và về lí thuyết, các phương diện của hàm ngôn (tiền giả định và hàm ý) đã được các công trình ngữ dụng học miêu tả một cách cụ thể với tất cả những khía cạnh cốt lõi nhất của lí thuyết này. Đồng thời, sự thể hiện của hàm ngôn trong các loại văn bản, nhất là văn bản nghệ thuật cũng đã được một số công trình đề cập. Tuy nhiên, hàm ngôn trong thơ và hàm ngôn trong thơ của từng tác giả cụ thể thì vẫn còn không ít khoảng trống.
Do đó, tìm hiểu về hàm ngôn trong sáng tác của một nhà thơ có tính đại diện cho một giai đoạn văn học cũng là một cách nhận diện riêng về một đặc điểm ngôn ngữ của tác giả đó; một mặt cũng là một cách để nhận diện sâu sát hơn về nghĩa hàm ngôn trong các loại diễn ngôn. Có nhà phê bình đã dựa vào ý kiến của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam để phát biểu rằng Di cảo thơ của Chế Lan Viên chính là “niềm sửng sốt thứ ba” mà nhà thơ để lại cho hậu thế. Cũng vì vậy, thế giới nghệ thuật của Chế Lan Viên đã được không ít nhà nghiên cứu như Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Khánh Thành… dùng làm đối tượng nghiên cứu của những công trình lớn. Nhưng về phương diện ngôn ngữ, đó đây chỉ mới là những công trình tìm hiểu về ẩn dụ, so sánh trong thơ Chế Lan Viên mà chưa có những công trình chuyên sâu về hàm ngôn trong thơ Chế Lan Viên.
Trong khi đó, Chế Lan Viên vốn nổi bật với đặc trưng thơ suy tưởng, triết lí, ý thức cao vai trò của hình thức, ngôn ngữ thơ, cầu kỳ tìm tòi, sáng tạo thơ trên bình diện ngôn ngữ. Nhà thơ từng ví mình như kẻ “đi dây” trên “vực ngôn từ” (Sổ tay thơ), bộc lộ một lao động nghệ thuật nghiêm túc, nỗ lực vươn tới những chân trời mới mẻ của thi ca, của ngôn ngữ của một thi nhân giàu trí tuệ. Chế Lan Viên chú trọng vai trò của của các lớp nghĩa hàm ẩn trong thơ, nên thơ ông thường xuất phát từ những cái cụ thể, bình dị của cuộc sống nhưng không nhằm đề diễn tả cái cụ thể, mà khai thác những liên tưởng, tưởng tượng vô cùng phong phú để từ cái cụ thể mà tạo ra biểu tượng. Từ thực tế đó chúng tôi quan niệm rằng, nhận diện về hàm ngôn trong “Di cảo thơ - tập 2” của Chế Lan Viên là một nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực, có thể góp phần khám phá những thế giới thơ muôn mặt, tràn đầy khát khao vươn tới những giá trị đích thực của thi ca.
Lịch sử vấn đề 2. Hàm ngôn Thế kỷ 20 chứng kiến bước chuyển mình nhanh chóng của ngôn ngữ học với sự ra đời lí thuyết cấu trúc của F.de Saussure, nhưng phải đến thập niên 80, 90, ngôn ngữ mới được chú ý nghiên cứu trong bối cảnh sử dụng của nó; đây cũng là lúc ngữ dụng học phát triển. Dù “sinh sau đẻ muộn” so với các nhánh khác của ngôn ngữ học, ngữ dụng học vẫn có cho mình một hệ thống lí thuyết đầy đặn, chặt chẽ. Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu là “lời nói”, các lí thuyết về hàm ngôn là một trong những điểm cốt lõi của ngữ dụng học.
Ngay từ buổi đầu hình thành, nghĩa hàm ẩn đã là luận điểm chính trong nhiều bài viết của các nhà ngôn ngữ học. Đầu tiên có thể kể đến Paul Grice, người được xem là có những đóng góp lớn lao và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của ngữ dụng học. Ngay từ năm 1957, trong bài viết Meaning [40], kết hợp ngôn ngữ học và logic học, Grice đề xuất hai kiểu nghĩa của từ: Ý nghĩa tự nhiên (natural meaning) và ý nghĩa không tự nhiên (non-natural meaning). Hai kiểu nghĩa này đặt nền tảng cho sự hình thành các khái niệm về hiển ngôn (explicit) và hàm ngôn (implicit) về sau.
Cũng chính Grice, trong bài viết xuất bản năm 1967 [41], đã hoàn thiện các luận điểm sơ khai trên và giới thiệu thuật ngữ “implicature”, và thuật ngữ này được Việt hóa là hàm ngôn (Đỗ Hữu Châu) hoặc hàm ý (Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân). Tuy nhiên, những cách Việt hóa đó được tạo thành khi thuật ngữ “implicature” đã được bồi đắp thêm rất nhiều qua quá trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ khác nữa. Nếu chỉ dựa trên các phân tích ban đầu của Grice, thì “(nghĩa) hàm ẩn” lại có phần thích đáng hơn. Với ông, nghĩa hàm ẩn được đính kèm trong các nguyên tắc cộng tác hội thoại, đó vừa là cái nôi sinh ra vừa là môi trường hoạt động của nghĩa hàm ẩn.
Những ý nghĩa không nằm trong ý định của người nói là ý nghĩa tự nhiên - không thuộc phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học; ngược lại, khi người nói ngầm ám chỉ, ngầm thể hiện một mục đích nào đó thì sẽ nảy sinh ý nghĩa không tự nhiên, tức nghĩa hàm ẩn. Từ thực tế hiện nay có thể thấy, nghiên cứu hàm ngôn trong ngữ dụng học không thể không nhắc đến các nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice; nhưng nếu chỉ dựa vào nhận định ý nghĩa không tự nhiên thì không thể nào phân tích được các lớp nghĩa hàm ẩn trong diễn ngôn. Cuốn Ngữ nghĩa học dẫn luận [23] do John Lyon chắp bút, một mặt tiếp thu các quan điểm của Grice, mặt khác có sự phát triển về cách lí giải và phân chia các loại hàm ngôn. Tuy vẫn giữ cách phân loại hàm ngôn thành hai loại là: hàm ngôn 3 quy ước (convention implicature) và hàm ngôn hội thoại (conversation implicature), nhưng John Lyon cho rằng, việc Grice chỉ phân tích trường hợp “and”, “therefore” là một sự thiếu sót trong việc xem xét các hàm ngôn quy ước.
Thêm vào đó, qua phân tích ví dụ, tác giả cũng còn chỉ ra thêm một khuyết điểm khác trong quan điểm hàm ý của Grice, đó là - khác với Grice - không phải lúc nào ý nghĩa tự nhiên (hiển ngôn) và ý nghĩa không tự nhiên (hàm ngôn) cũng có thể phân tích một cách rõ ràng; và nếu chỉ xét các liên từ “and”/”therefore” thì theo quan niệm hàm ngôn quy ước, sẽ rất khó để hiểu chính xác hàm ý của người nói. Xuất phát từ các lập luận này, John Lyon “mở rộng một cách đáng kể danh sách các dạng thức thỏa mãn tiêu chí của ông [Grice] về hàm ngôn quy ước”: however, moreover, nevertheless, yet,…; hoặc tiểu từ tình thái như: even, well, just,. Qua đó, Lyon khẳng định, “không có lí do gì để hạn chế khái niệm hàm ngôn quy ước trong phạm vi liên từ và tiểu từ”, cũng như “không có lí do gì để giới hạn việc áp dụng hàm ngôn quy ước trong việc sử dụng ngôn ngữ chỉ để biện luận ít nhiều mang tính hình thức” hay “giới hạn nó trong phạm vi nghĩa mệnh đề, hoặc nghĩa miêu tả”. Cho đến nay, về cơ bản, lí thuyết ngữ dụng học vẫn xoay quanh các khái niệm cơ bản, thế hệ các nhà ngôn ngữ sau này chủ yếu bổ sung thêm vào “khung xương” này những lớp da thịt mới.
Điển hình như George Yule, từ các quan điểm của Grice và Lyon, ông xuất bản cuốn Pragmatics [39] năm 1996. Tác giả giữ nguyên các loại hàm ý quen thuộc như: hàm ý quy ước, hàm ý hội thoại - bao gồm: Hàm ý hội thoại khái quát (generalized conversation implicatures) và hàm ý hội thoại cụ thể (particularized conversation implicatures); đồng thời, đề xuất một tiểu loại mới, mà chúng tôi tạm dịch là hàm ý vô hướng (scalar implicatures). Tác giả mô tả loại hàm ý này như là một hàm ý liên quan đến phương châm về lượng trong giao tiếp, khi mà người nói muốn diễn đạt một thông tin cụ thể, từ ngữ mà anh ta chọn sẽ diễn tả một giá trị nào đó từ thang giá trị của nó. Nói một cách đơn giản, trọng tâm của hàm ý vô hướng là nằm ở các lượng từ (all, most, many, some, few,.) hoặc các từ chỉ tần suất (always, usually, sometime,…) trong một diễn ngôn.
Ông cũng khẳng định hàm ý quy ước không bị chi phối bởi các phương châm hội thoại bởi chúng không phụ thuộc vào ngữ cảnh, nhưng nhận định này đã được Grice nhắc đến qua các phân tích ở bài viết Logic and Conversation, khi ông chỉ ra sự khác biệt giữa hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại. Ngoài ra còn có thể kể đến một số tác giả khác như Stalneker, Karttunen và Keenan… Nhưng nhìn chung phần nhiều các công trình nghiên cứu lí thuyết ngữ 4 dụng thường xoay quanh khái niệm tiền giả định. Các tác giả mà chúng tôi vừa giới thiệu khái quát trên đây có thể nói là quan tâm hơn cả đến yếu tố hàm ngôn của lời nói; và có ảnh hưởng đối với các nhà ngôn ngữ học ở nước ta. So với tuổi đời của ngữ dụng học, có thể nói lí thuyết của phân nhánh ngôn ngữ học này được giới thiệu ở Việt Nam từ rất sớm; vào khoảng những năm 80 của thế kỷ trước.
Nhưng những lí thuyết này được xây dựng và phân tích chủ yếu dựa trên hệ ngôn ngữ Ấn - Âu, loại hình ngôn ngữ hòa kết khác hẳn với tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Chính vì thế, nói đến lịch sử nghiên cứu hàm ngôn, mà nhất là hàm ngôn trong tiếng Việt, không thể không nhắc đến các nhà Việt ngữ tiêu biểu như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Nguyễn Đức Dân,… Họ không chỉ giới thuyết mà còn vạch ra mối quan hệ, cơ chế hình thành hàm ngôn trên cứ liệu tiếng Việt. Sớm nhất trong số đó phải kể đến Hoàng Phê với bài viết Ngữ nghĩa của lời (1981). Ở đây, tác giả đã nhận ra sự thiếu quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đối với hàm ngôn dù cho “ý hàm ngôn mới là ý chính”, “có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn.” Bài viết còn đề cập đến tiền giả định và quan hệ của nó với hàm ngôn.
Cá nhân Hoàng Phê cho rằng tiền giả định thuộc cái không nói ra của lời nói, chứ không phải thuộc phạm vi của hàm ngôn như ý kiến của G. Nhưng điều đáng nói ở đây lại là việc tác giả đề xuất việc gọi hoạt động tư duy tìm ra ý hàm ngôn ở lời nói là suy ý; rồi dựa vào mức độ tin cậy của suy ý mà chia hàm ngôn thành 2 cấp bậc: Hàm ý và ngụ ý. Điểm này về sau sẽ là một sự gặp gỡ với quan niệm của giáo sư Nguyễn Đức Dân.