Chương 1 Tổng quan về hệ thống thông tin sợi quang và méo tín hiệu trong hệ thống thông tin sợi quang băng rộng 1.1 Giới thiệu chương Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các dịch vụ viễn thông hiện nay đang được phát triển rất đa dạng. Các dịch vụ được cung cấp bao gồm: điện thoại, internet, các trò chơi tương tác, truyền hình hội nghị, kênh thuê riêng, mạng riêng ảo, dịch vụ Fiber to The X (FTTX). Các thế hệ công nghệ mạng 2G - Second Generation (2G), 3G - Third Generation (3G), 4G - Fourth Generation (4G),. được phát triển.
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về dung lượng truyền tải trong hệ thống thông tin, nhu cầu phát triển các đường truyền băng rộng rất cấp thiết [1]. Công nghệ tách/ghép kênh phân chia theo bước sóng - Wavelength Divi- sion Multiplexing (WDM) ra đời đã giải quyết phần nào bài toán dung lượng. Ngày nay, nhờ các kỹ thuật điều chế tiên tiến, dung lượng truyền tải trên mỗi bước sóng trong hệ thống WDM được tăng đến 10 Gbit/s, 40 Gbit/s, 100 Gbit/s và đã được thương mại hóa [2]. Việc áp dụng các kỹ thuật điều chế trên nền công nghệ bán dẫn - Integrated Circuit (IC) hiện tại đã giúp làm giảm các chi phí đầu tư hạ tầng cho các nhà mạng [3].
Dung lượng trên mỗi bước sóng được nâng cấp từ 10 Gbit/s lên 40 Gbit/s hoặc 100 Gbit/s trong hệ thống WDM, bằng cách vẫn giữ nguyên thiết bị tách/ghép bước sóng và nâng cấp thay thế thiết bị chuyển đổi bước sóng dung lượng 40 Gbit/s hoặc 100 Gbit/s [4]. Trong thời gian gần đây, mức dung lượng dữ liệu trao đổi trên hệ thống thông tin toàn cầu tăng trưởng vượt bậc theo hàm mũ đã được ghi nhận [5, 6]. Thế hệ tiếp theo của hệ thống thông tin viễn thông với cơ sở hạ tầng là mạng thông tin quang có nhu cầu rất cấp thiết phát triển băng rộng và chi phí truyền dẫn thấp. Trong chương này, luận án giới thiệu về cấu trúc, các thành phần cơ bản trong mạng viễn thông, đồng thời, luận án phân tích vai trò sợi quang là môi trường truyền dẫn tín hiệu và các dạng méo tín hiệu trong hệ thống thông 6 tin sợi quang băng rộng.2 Cấu trúc hệ thống thông tin viễn thông Mạng viễn thông toàn cầu hiện nay đang được triển khai rộng khắp, rất phức tạp với việc tham gia khai thác, điều hành, sở hữu từ nhiều công ty cung cấp dịch vụ khác nhau.
Các công ty này triển khai các dịch vụ ở những tần số sóng mang khác nhau và đến từ các vùng miền và các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản mạng viễn thông hiện nay có thể được phân loại thành ba nhóm như sau: (i) tuyến đường trục dài, tuyến đường trục rất dài và tuyến đường trục xuyên đại dương, (ii) tuyến kết nối đô thị/vùng miền và (iii) mạng truy cập [7, 8]. Việc phân loại của các tuyến đường truyền này chủ yếu dựa vào khoảng cách cũng như lưu lượng dữ liệu truyền dẫn qua các tuyến đó. Các trạm trung tâm (tổng đài) hoạt động như một nút của mạng (Hình 1.
Các liên kết giữa các nút có thể là một sợi đơn hoặc bó sợi, được triển khai trong các ống dẫn dưới lòng đất. Chiều dài tối đa giữa các nút của tuyến truyền theo hệ thống phân loại được trình bày trong Bảng 1.1: Sơ đồ hệ thống thông tin sợi quang [16]. Các tuyến đường trục dài, các tuyến đường trục rất dài và tuyến đường trục xuyên đại dương nằm ở phần trên cùng của mạng viễn thông (Hình 1. Các tuyến này được gọi là mạng quốc gia được sử dụng để truyền tải dữ liệu được tổng hợp từ hệ thống mạng kết nối giữa các đô thị và vùng miền.
Các tuyến trục này thường có chiều dài truyền dẫn giữa các nút lên đến hàng nghìn km. Đây là tuyến trọng điểm truyền tải thông tin xuyên quốc gia, xuyên lục địa và xuyên đại dương. Những mạng lõi đường trục này đòi hỏi phải đáp ứng được truyền tải một dung lượng rất lớn trên một khoảng cách truyền xa với chi phí thấp nhất. Vì thế, mạng thông tin sợi quang là mạng truyền dẫn lý tưởng 7 do tổn hao thấp, chi phí thấp và băng rộng.1: Khoảng cách truyền dẫn trong hệ thống phân loại mạng viễn thông.
Cấu trúc mạng viễn thông Khoảng cách truyền (km) Mạng truy cập < 100 km Mạng đô thị 100 km – 300 km Mạng vùng miền 300 km – 1000 km Tuyến trục dài 1000 km – 3000 km Tuyến trục rất dài 3000 km – 6000 km Tuyến trục xuyên đại dương > 6000 km Sợi quang đơn mode với suy hao công suất rất thấp trong vùng cửa sổ bước sóng từ 1460 nm đến 1625 nm và suy hao công suất tại bước sóng 1550 nm có giá trị xấp xỉ 0. Do đó, mạng đường trục sử dụng sợi quang đơn mode có khả năng truyền dẫn tín hiệu với khoảng cách rất dài, chi phi thấp và có khả năng cung cấp băng thông rất lớn lên đến 20 THz. Mạng đường trục thương mại sử dụng công nghệ ghép kênh phân chia theo bước sóng WDM để tổng hợp nhiều kênh với tốc độ bit 10 Gbit/s, 40 Gbit/s và 100 Gbit/s. Dung lượng truyền dẫn của hệ thống sợi quang cũng được tăng khi sử dụng cáp quang nhiều lõi giữa các liên kết như Hình 1.
Mạng kết nối giữa các thành phố đô thị có khoảng cách truyền từ 100 km – 300 km, và mạng kết nối vùng miền hoặc các quốc gia có diện tích nhỏ có chiều dài tuyến từ 300 km – 1000 km. Mạng đô thị và vùng miền được kết nối với mạng lõi thông qua các tuyến đường dài và truyền tải dữ liệu được tổng hợp từ hệ thống mạng truy cập [9]. Mặc dù dung lượng truyền dẫn trong mạng lưới đô thị/vùng miền này nhỏ hơn nhiều so dung lượng được truyền trên các tuyến đường trục, tuy nhiên nhu cầu về chuyển đổi, định tuyến giữa các nút trong mạng này rất lớn. Vì vậy, thường xảy ra các hiện tượng nghẽn mạch.
Hiện nay, mạng kết nối đô thị/vùng miền được phát triển theo cấu trúc liên kết vòng hoặc hình sao hoặc cấu trúc chia lưới hoặc kết hợp giữa các cấu trúc này để cải thiện dung lượng và độ tin cậy cũng như tăng khả năng dự phòng trong mạng. Mạng truy cập thường bao gồm các liên kết ngắn và được phân loại ở lớp cuối cùng của mạng viễn thông. Mạng truy cập này đại diện cho kết nối giữa các dịch vụ nhà mạng và người sử dụng như doanh nghiệp, nhà ở hay các thiết bị viễn thông đầu cuối. Lưu lượng dữ liệu từ các mạng truy cập khác nhau được kết hợp với nhau trước khi kết nối vào mạng đô thị/vùng miền.
Mạng truy cập còn được gọi là mạng viễn thông đầu cuối và có chiều dài tuyến truyền 8 dẫn thường nhỏ hơn 100 km. Cho đến nay, lưu lượng dữ liệu được truyền dẫn trong mạng truy cập này được thực hiện phần lớn qua cáp đồng trục và sóng vô tuyến. Tuy nhiên, suy hao công suất của dây đồng thường lớn và dung lượng truyền dẫn sóng vô tuyến có tần số sóng mang thấp bị giới hạn. Để đáp ứng nhu cầu tăng mạnh của lưu lượng truyền dẫn, gần đây hệ thống cáp quang kết nối điểm “X” FTTX được giới thiệu [10], trong đó “X” có thể là tư gia, biệt thự, tòa nhà hay chung cư .3 Các thành phần cơ bản trong hệ thống thông tin sợi quang Hiện nay, có nhiều loại hệ thống truyền dẫn thông tin sợi quang khác nhau và nhìn chung có thể nói: cấu hình của mạng truy cập, mạng đô thị/vùng miền và tuyến truyền quang đường trục đều hoàn toàn khác nhau.2 mô tả hệ thống truyền dẫn đường dài WDM.2: Hệ thống truyền dẫn thông tin sợi quang WDM [17].1 Nguồn phát quang laser Để truyền dữ liệu qua sợi quang, tín hiệu cần được điều chế lên một sóng mang quang trước khi truyền vào sợi quang.
Nguồn sóng mang quang lý tưởng phải thỏa mãn về biên độ có giá trị không đổi, công suất quang đủ lớn, pha và tần số không đổi. Trên thực tế, nguồn sóng mang quang lý tưởng rất khó đạt được do các giới hạn về thành phần và vật liệu. Một trong các nguồn phát sóng mang quang là laser với các thuộc tính kể trên ở một mức độ nào đó đã đáp ứng và được lựa chọn thành nguồn sóng mang cho các ứng dụng truyền dẫn tín hiệu thông tin quang. Trong các hệ thống truyền dẫn tín hiệu thông tin sợi quang băng rộng, nguồn phát quang laser được lựa chọn có độ rộng phổ thấp để đạt được nhiễu pha nhỏ.
Hầu hết các loại laser phổ biến hiện nay đều dựa trên công nghệ phản hồi phân tán - Distributed Feedback (DFB) cung cấp sóng mang quang với độ rộng phổ trong dải ∼ 1 MHz. Độ rộng phổ ∼ 100 kHz hoặc thấp hơn được thực 9 Hình 1.3: Giản đồ mật độ phổ năng lượng của laser [16]. hiện bởi bằng laser hộp cộng hưởng ngoài - External Cavity Laser (ECL) [11]. Độ rộng phổ (băng thông) của laser được tính bằng độ rộng tại nữa đỉnh biên độ trong giản đồ mật độ phổ công suất.3 chỉ ra sự khác biệt giữa hai laser có độ rộng phổ lần lượt là 100 kHz và 1 MHz.
Với ts là thời gian lấy mẫu, nhiễu pha của laser phụ thuộc vào độ rộng phổ và được xác định bằng công thức σθ2 = 2π∆f ts (1.2 Bộ điều chế quang Bộ điều chế quang được sử dụng để biến đổi một hoặc nhiều thuộc tính của sóng tần số cao từ nguồn phát quang với một tín hiệu điều chế mà thường chứa thông tin được truyền đi. Trong các ứng dụng thông tin băng rộng, nguồn phát quang laser được sử dụng và được điều chế với tín hiệu điện bằng một trong hai phương thức: điều chế trực tiếp hoặc điều chế ngoài. Trong điều chế trực tiếp, công suất đầu ra của thiết bị biến đổi trực tiếp với điều khiển dòng đầu vào. Lợi ích của điều chế trực tiếp là đơn giản và rẻ.
Nhược điểm là nó chậm hơn điều chế ngoài.4 biểu thị điều chế ngoài sử dụng ống dẫn sóng giao thoa - Mach – Zehnder Modulator (MZM). Ánh sáng đi vào bộ điều chế tách ra làm hai đường: một đường không thay đổi hay không được điều chế; đường khác có các điện cực đặt qua nó. Bởi vì LiN bO3 là một vật liệu điện quang, khi có điện áp đặt qua ống dẫn sóng thì chiết suất khúc xạ của nó thay đổi, gây ra quay pha tỷ lệ với biên độ của điện áp đưa vào. Điện áp đầu vào được kết hợp với dịch pha 1800 được đặt là Vπ.
Dịch pha tạo ra được tính bởi: Vin ∆θ = 1800 (1.