Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất khi ly hôn Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất khi ly hôn tại TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định và các giải pháp hoàn thiện pháp luật. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT KHI LY HÔN 1. Một số vấn đề lý luận về tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất 1. Khái niệm QSDĐ và tài sản gắn liền với đất Trong lịch sử lập hiến của nƣớc Việt Nam, những Hiến pháp đầu tiên ra đời đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu khác nhau về đất đai, tuy nhiên kể từ khi Hiến pháp năm 1980 ban hành và có hiệu lực thì chỉ có một hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai là sở hữu toàn dân (Điều 119).
Hiến pháp năm 1992 (Điều 17) và Hiến pháp năm 2013 (Điều 53) đã tiếp tục khẳng định quan điểm của Nhà nƣớc ta đối với hình thức sở hữu về đất đai. Trên tinh thần đó LĐĐ năm 1987, LĐĐ năm 1993 (sửa đổi bổ sung năm 2001), LĐĐ năm 2003 và LĐĐ năm 2013 đã cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai. Xuyên suốt các LĐĐ qua các thời kỳ đều nhấn mạnh nội dung tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chỉ đƣợc thực hiện quyền của ngƣời sử dụng đất khi đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. Mặc dù vậy nhƣng ngƣời sử dụng đất không phải là chủ sở hữu đất đai và khi đƣợc sự đồng ý của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền thì ngƣời sử dụng đất mới đƣợc thực hiện các quyền của mình đối với đất đai.
Việc thực hiện các quyền với đất đai cũng phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, ta có thể hiểu QSDĐ là quyền của các chủ thể đƣợc khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất đƣợc Nhà nƣớc giao, cho thuê hoặc đƣợc chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho… Tiếp tục kế thừa và phát huy những nội 8 dung trên, Nghị quyết số 19-NQTW ngày 31-10-2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại Đảng ta đã khẳng định QSDĐ là “một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt” [2]. Từ đó ta có thể hiểu QSDĐ là một loại quyền tài sản và có thể trở thành tài sản chung của vợ chồng. Trên thực tế không có văn bản nào giải thích cụ thể khái niệm “Tài sản gắn liền với đất” nhƣng rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật có đề cập đến cụm từ “Tài sản gắn liền với đất” nhƣ khoản 1 Điều 104 của LĐĐ năm 2013; khoản 4 Điều 3 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19-3-2021 của Chính phủ, Luật nhà ở năm 2014 và Luật xây dựng năm 2014.
Nhìn chung, các văn bản pháp luật đề cập đến khái niệm tài sản gắn liền với đất chủ yếu mang tính liệt kê các tài sản gắn liền với đất tuy nhiên cũng chƣa hoàn toàn đầy đủ và thống nhất. LĐĐ năm 2013 khẳng định: Tài sản gắn liền với đất đƣợc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm [19, Điều 104, Khoản 1] … Tiếp tục khẳng định quan điểm trên Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19-3-2021 của Chính phủ đã quy định: Tài sản gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng thuộc dự án đầu tƣ xây dựng nhà ở, nhà ở riêng lẻ theo quy định của Luật nhà ở, công trình xây dựng khác, cây lâu năm, rừng sản xuất là rừng trồng hoặc vật khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật [6, Điều 3, Khoản 4]. Đề cập ở một khía cạnh hẹp hơn thì Luật nhà ở năm 2014 quy định: “Nhà 9 ở và công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân” [21]. Luật xây dựng năm 2014 quy định “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết định vị với đất” [23].
Từ những quy định của pháp luật đã trình bày ở trên có thể hiểu nhà ở là một công trình xây dựng nhƣng công trình xây dựng này phải gắn liền với mục đích là để ở và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình và cá nhân. Đối với các công trình khác không xây dựng trên đất và để phục vụ cho mục đích khác nhƣ công trình dân dụng, công trình giao thông thì không đƣợc coi là nhà ở. Nhà ở có những đặc điểm đặc trƣng: là bất động sản, không thể di dời dễ dàng, mang tính bền vững và đƣợc xây dựng gắn liền với đất; đƣợc xây dựng gắn liền với mục đích phục vụ hoạt động thƣờng ngày của con ngƣời; là một loại tài sản có giá trị lớn. Nhà ở có trƣớc thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ hoặc chồng nhƣng nếu vợ hoặc chồng cùng thỏa thuận là tài sản chung thì nhà ở đƣợc coi là tài sản chung của vợ chồng.
Nhà ở đƣợc tạo lập trong thời kỳ hôn nhân đƣợc coi là tài sản chung của vợ chồng. Do đặc điểm địa lý thành phố Nam Định là đô thị loại 2 thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng nên những vụ án tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng chủ yếu là QSDĐ và nhà ở mà không có tài sản là cây lâu năm, rừng sản xuất. Vì vậy phạm vi nghiên cứu của tác giả chủ yếu đề cập đến chia tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất là nhà ở. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất Xét về bản chất tài sản chung của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự.
Theo quy định của Điều 105 của BLDS năm 2015 thì “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, bao gồm bất động sản và động sản, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình 10 thành trong tương lai” [24, Điều 105]. Trong giao dịch dân sự tài sản chiếm phần lớn trong các mối quan hệ, trong Luật HN&GĐ tài sản chung của vợ chồng là một nội dung quan trọng quy định tại mục 3 chƣơng III (Luật HN&GĐ năm 2014). Theo quy định tại Điều 33 tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trƣờng hợp đƣợc quy định tại Điều 40 của Luật HN&GĐ năm 2014; Tài sản mà vợ chồng đƣợc thừa kế chung hoặc đƣợc tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. QSDĐ mà vợ, chồng có đƣợc sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trƣờng hợp vợ hoặc chồng đƣợc thừa kế riêng, đƣợc tặng cho riêng hoặc có đƣợc thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Trong trƣờng hợp vợ chồng có tranh chấp nhƣng không có căn cứ để chứng minh đó là tài sản riêng thì xác định đó là tài sản chung [20, Điều 33]. Đặc điểm tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất Thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bắt đầu từ khi đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đến ngày chấm dứt hôn nhân. Tuy nhiên đối với trƣờng hợp nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng trƣớc ngày 03-01-1987 mà không đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng đƣợc tính từ ngày hai ngƣời bắt đầu quan hệ chung sống. Do đó, những tài sản mà vợ, chồng có trong thời kỳ hôn nhân bao gồm QSDĐ và tài sản gắn liền với đất đều là tài sản chung của vợ chồng.
Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt QSDĐ và tài sản gắn liền với đất mà không phụ thuộc vào việc ai là ngƣời có khả năng trực tiếp tạo ra tài sản hay công sức đóng góp của mỗi bên. QSDĐ và tài sản gắn 11 liền với đất do vợ chồng có trong thời kỳ hôn nhân có thể do vợ, chồng tạo lập hoặc thông qua các giao dịch dân sự nhƣ: tặng cho, thừa kế. Những tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng do đƣợc tặng cho, thừa kế về nguyên tắc là tài sản riêng tuy nhiên thông qua việc thỏa thuận của vợ chồng thì tài sản riêng sẽ trở thành tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Từ những phân tích nhƣ trên, có thể thấy tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất có những đặc điểm sau: Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất là một loại tài sản có giá trị lớn, mang tính bền vững, giữ vai trò thiết yếu trong cuộc sống vợ chồng.
Đối với bất cứ một gia đình nào thì niềm mong muốn có một ngôi nhà là điều mà vợ chồng trẻ nào cũng muốn hƣớng tới. Đó là nơi diễn ra sinh hoạt hàng ngày của các thành viên trong gia đình, góp phần quan trọng trong việc xây dựng một gia đình ổn định phát triển. Khác với những loại tài sản khác QSDĐ và tài sản gắn liền với đất mang tính bền vững, giá trị hao mòn ít, thậm chí cùng với thời gian, với vị trí thuận lợi của thửa đất cùng những nét độc đáo về kiến trúc công trình trên đất thì tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất có thể gia tăng giá trị hoặc đem lại lợi nhuận cho vợ chồng bằng hình thức cho thuê, chuyển nhƣợng hƣởng chênh lệch.