chương 1. Hoạt động dồng tài trợ của các Tổ chức tín dụng - Một yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Tính tất yếu khách quan này được xét từ 6 góc độ sau: Một là, hoại động đồng lài trợ - xé! lừ giác độ ìnậl pháp và an loàn vốn khi cấp tín dụng cho nền kinh lể. Xót về lịch sử và lôgic, hoại động kinh doanh của các ngân hàng phát triển là do yêu cầu của nền kinh lố thị trường.
Lúc đầu các "Nhà ngân hàng" chí là những người nhận liền gửi đổ lấy công. Qua hoạt động kinh doanh của những thương nhân và người sản xuất cần vốn dể liếp tục quá trình kinh doanh và lái sản xuất giản đơn mà nghiệp vụ cho vay ra đời và phái triển. Dần dần hoạt động cho vay kiêm lời đã trở thành hoạt dộng chính của những người kinh doanh tiền tệ. Việc mơ rộng đầu tư vốn của những nhà sản xuất và lưu thông dã thúc dẩy những nhà ngân hàng đẩy manh cho vay không chỉ dáp ứng vốn ngắn hạn, 'am thời của những nhà sản xuất và lưu thông mà dần cho vay với những vốn lớn hơn, thòi gian dài hơn.
Hình thức cho vay trung và dài hạn ra tù' dó. Với hình thức tín dụng này dã dẩy nhanh quá trình lích tụ và lập .ung vốn của các nhà sản xuất, dẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá. Từ dỏ lác dộng của hoạt dộng tín dụng dã lạo điều kiện cho nen kinh tố phát triển nhanh hơn, nhưng dồng thời nền kinh lố càng phái triển, nhất là những quốc gia cổng nghiệp hoá càng đòi hỏi nghiệp vụ ngân hàng ngày càng da dạng hơn, công nghệ ngân hàng phải hiện dại hơn, các dịch vụ ngày càng tiện lợi cho khách hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ ngồn hàng và đòi hỏi quan lý của nền kinh tế thị trưởng, đảm bảo cho sự phát triển an loàn và hiệu quá, Nhà nước dã can thiệp vào hoại dộng của các ngân hàng, sử dụng ngân hàng Trung ương làm công cụ quản lý vĩ mô nen kinh lố.
Đồng thời sử dụng 14 luậl pháp điều tiết hoạt động của các Tổ chức tín dụng, quy định rõ việc sử dụng vốn đổ cho vay đối vói một khách hàng, ký quỹ hắt buộc, diều chỉnh lãi suất lái chiết khấu. Tất cả những can thiệp này của Nhà nước dã buộc các Tổ chức tín dụng nói chung và các Ngân hàng Thương mại nói riêng phải lìm phương thức cấp vốn tín dụng thích hợp đổ vừa dáp ứng dược lối da nhu cầu vốn cho nền kinh tế, vừa đảm bảo hoạt dộng của Ngân hàng Thương mại an loàn và không phạm luật. Các ngân hàng đã liên kết với nhau cùng đầu tư vào những dự án lớn của một khách hàng mà một ngân hàng không thổ cho vay với số vốn vượt mức quy định của luật dịnh. Ví dụ, theo luật Tổ chức tín dụng Việt Nam thì lổng dư nự cho vay một khách hàng không dược vượt quá 15% vốn lự cỏ của Tổ chức tín dung.
II ai ìà, đồng lài trợ - xét tù' giác độ bảo lãnh Sự phát triển của nền kinh tố thị trường đòi hỏi ngân hàng có nhiều hình thức kinh doanh mới, trong dỏ cổ hình thức bảo lãnh ra dời và phát triển. Tuy nhiên việc bảo lãnh của một ngân hàng dối với một yêu cẩu bảo lãnh với số vốn lớn cũng chứa dựng khá năng rủi ro cao khi khả năng thanh toán của khách hàng dược ngân hàng bảo lãnh không thực hiện được cam kết dối với dối lác kinh doanh. Trong trường hợp này ngân hàng buộc phải trả nợ thay cho khách hàng theo cam kết, đồng thời thực hiện cho vay bắt buộc dối với khách hàng mà mình báo lãnh. Số vốn cho vay bắt buộc là làm ánh hương dốn khả năng thanh toán của ngân hàng báo lãnh khi khoán vốn cho vay này quá lứn, dây là diều mà mọi ngân hàng dổu hốt sức tránh.
Mơn nữa ngay những khoản cho vay bắt buộc này dã chứa dựng những khả năng dọng vốn, rất dỗ dẫn tới mất vốn khi khách hàng phá sản hoặc không cỏ khả năng thanh toán. Chính vì vậy hoạt dộng dồng bảo lãnh cũng hình thành và phát triển đổ dam bảo cho sự an loàn của mỗi Ngân hàng thương mại. 15 Ba là, đồng tài trợ - xét từ giác độ mục liêu kinh doanh Kinh doanh trong nền kinh lô' thị trường với yêu cầu luôn phải có lợi nhuận cao, đồng thời tỷ suất lợi nhuận phải đảm bảo khả năng cạnh tranh và phát triển. Các Tổ chức tín dụng phái liên minh với nhau, tạo ra sự tin tưởng họp lác trong kinh doanh đổ cùng chia sỏ lợi nhuận và rủi ro.
Khi tỷ suất lợi nhuận càng cao thì khả năng rủi ro càng lớn. Vì vậy, đổ đẩu tư có hiệu quả các TỔ chức tín dụng trong khi cạnh tranh quyết liộl với nhau, nhưng cũng đồng thòi phải hợp lác với nhau trong dầu lư vốn. Họ họp tác vổ thông tin kinh tế, hộ thống phòng ngừa rủi ro, hỗ trự về vốn đầu tư qua việc vay trả nự trên hệ thống liên ngân hàng. và sử dụng những thố mạnh của mỗi Tổ chức tín dụng để có thổ quản lý và thẩm định khoản vay nhằm bảo dảm hiệu quả, hạn chế những bất trắc xảy ra trong kinh doanh tiền lệ một lĩnh vực kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
Qua đỏ mà thực hiện lốt mục tiêu kinh doanh. Bốn là, đồng lài trợ - xét tử giác độ kiểm soát tín dụng. Trong toàn bộ các khâu hoạt động tín dụng ngân hàng thì khâu kiểm soát tín dụng là một khâu không thổ thiếu và cỏ lác dụng quan trọng và dám báo lính hiệu quả và sự an loàn của vốn tín dụng. Thực liễn hoạt động Ngcìn hàng Thương mại Việt Nam những năm qua cho thấy, một trong những nguyên nhân gây lên những lổn thất về tài sản và con người dẫn đến giảm sút chữ "Tín" của Ngân hàng thương mại là: Do sự yc'u kém nghiệp vụ, hoặc do cố ý coi nhẹ, hoặc bỏ qua vì ý đồ liêu cực trong khâu kiểm soát tín dụng.
Như vạy, có thổ nói rằng trong những trường hợp nhu cầu vay vốn hoặc báo lãnh de thực hiện dự án không vượt giới hạn lối da cho phép dối với một Tổ chức tín dụng hoặc khá năng nguồn vốn của một Tổ chức tín dụng vẫn dam bảo việc cho vay và báo lãnh dự án nhưng vẫn cần hình thức đổng tài trợ với mục đích góp phần thực hiện có hiệu quả khâu kiểm soát tín dụng. Để làm rõ 16 vấn đề này, dưới đây là lình hình thực liễn hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong mấy năm gần đây: Thực hiện Nghị định số 44/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ và các Quyết định số 90 và 91 của Thủ tướng Chính phủ, các lổng công ly Nhà nước lần lượt ra đời. Đổ đủ vốn kinh doanh, các lổng công ly đều có quan hệ vay vốn ngân hàng. Nhiều công ly có hô thống các công ty trực thuộc, vừa nhiêu, vừa nằm rải rác trong một không gian rộng lớn ơ cả ba mien Băc, I rung , Nam.
Trong khi dó, lổng công ly hạch loán loàn ngành lại dỏng trụ sơ lại một dịa danh cụ the và có quan hệ hợp dồng tín dụng với một chi nhánh ngân hàng cùng dóng trụ sở với lổng công ly. Vốn tín dụng được giải ngân cho các công ly sử dụng Ihco yêu cẩu của lổng công ly. Vấn dề nảy sinh là một chi nhánh ngân hàng không dủ diều kiện và khả năng kiểm soái lín dụng, dặc hiệt là kiểm soái việc sử dụng vốn vay của các công ly. Năm là, đồng lài trợ - xét lừ giác độ nhu câu vốn cho sự nghiệp công nghiệp htìú, hiện đại hóa.
Việl Nam muốn trở thành một nước công nghiệp phát triển, phải trải qua quá trình công nghicp hoá, hiện dai hoá. Vấn de này dã dược khăng dinh lại các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và Đại hội Đảng lần thứ IX. Gắn với quá trình này là tích tụ và lập trung vốn, dồng thời phải sir dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn dặc biệt là phải lận dụng mọi ưu thô về dịa lý, lợi thế so sánh trong phân công lao dộng giữa các nước, lài nguyên và vón, cong nghệ cũng như kinh nghiệm của các nước phái triển. Tuy việc thu hút và sử dụng vốn nước ngoài có rất nhiều lợi thố, nhưng không thổ không có những bấl lợi xél lừ nhiều khía cạnh.
Bởi vậy, phát huy n°uồn vốn từ nội lực là vấn de quyêl định. Trách nhiệm này trươc hôi thuộc ve ngành lài chính và các Tổ chức tín dụng. Trong quan hệ cung, cẩu vốn cho sự n°hicp công nglìicp hoá, hiên dai hoá thì một vấn dê noi cộm la nlncii doanh no hiệp lớn, các lổng công ty 90, 91 có nhu cầu vay khối lượng vốn rất lớn 17 (Nhà máy đường Phong An có nhu cầu vay vốn 400 lỷ VNĐ, công trình II của khách sạn Hà Nội gần 20 tỷ VNĐ, Công ty xi măng Hà Tiên I vay I 12 tỷ VNĐ. Trong khi đó khả năng nguồn vốn tín dụng của một Ngân hàng 1 hương mại không thể chỉ dồn cho một khách hàng hoặc bị khống chế bởi quy chế cấp tín dụng.
Xử lý vấn đồ này thông qua hoạt động đồng tài trự là việc làm cần thiết. Sáu là, đồng lài trợ - xé! lừ giác độ cạnh tranh. Hoạt dọng kinh doanh cua các Tô chức tín dung trong nổn kinh lê thị trường trôn thố giới cũng như ở Việt Nam cho thấy các Tổ chức tín dụng luôn phái cạnh tranh quyết liệt với nhau nhưng cũng phải liên kết với nhau để chia sỏ lợi nhuận và cũng là để chia sỏ rủi ro. Các Tổ chức tín dụng luôn lìm những phương thức kinh doanh mới, phát triển các sản phẩm mới đổ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trước hết là giảm chi phí quản lý. Chiến lược của từng Tổ chức tín dụng cũng như các Ngân hàng Thương mại cho thấy họ chỉ bỏ một phần vốn nhất định vào một lĩnh vực, do vậy dù có đủ số vốn họ cũng không sẩn sàng dua hốt vốn vào dổ cho vay. Nhất là những dự án lớn thời gian drill tư dài, các ló chức tín dụng ngại vồ rủi ro có thể xảy ra do thẩm định và thời gian đầu tư dài. Muốn vạy, trong lĩnh vực đầu tư vốn lớn họ giảm chi phí quán lý thông qua hùn vốn cùng cho vay một khách hàng.