Đặt vấn đề Xuất nhập khẩu có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội một nước phát triển như thế nào phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh này. Thông qua xuất nhập khẩu có thể làm tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu cho ngân sách nhà nước, kích thích đổi mới công nghệ, tiếp cận được phương thức quản lý và kinh doanh mới, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, tạo sự cạnh tranh của hàng hoá nội và ngoại, nâng cao mức sống của người dân.1 Cảng Tân Cảng Cát Lái thành phố Hồ Chí Minh Để phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và hội nhập với thế giới, nâng cao vai trò xuất nhập khẩu trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta, Việt Nam đã phát triển rất nhiều hệ thống Cảng sông, Cảng biển, cùng hàng vạn kho hàng, bãi chứa hàng, đây cũng là một lĩnh vực chiến lược đang rất được nhà nước và rất nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư. Những năm đầu của thế kỷ 20, ông Malcolm McLean người Mỹ đã phát minh ra container tạo nên cuộc cách mạng container hóa, làm thay đổi diện mạo của ngành vận tải.
Do đó, phương thức vận tải hàng hóa, phát triển dịch vụ logistics hiện đại ở nước ta, vận chuyển bằng container là lựa chọn hàng đầu hiện nay. 2 Để phục vụ cho việc sắp xếp, vận chuyển container tại các cảng tàu, bãi chứa hàng, các công ty khai thác sử dụng cẩu trục với nhiều loại khác nhau. Có các loại cẩu như cẩu khung chạy ray RMG (Rail Mounted Gantry Crane), cẩu khung chạy bánh lốp (Rubber Tyred Gantry Crane) sử dụng trong bãi Container, cẩu quay (Jib Crane), cẩu giàn chạy ray STS (Ship To Shore Crane) sử dụng tại cầu tàu. Phương tiện cẩu trục là phương tiện kỹ thuật, cơ giới chính trong các ngành sản xuất, cứu hộ cứu nạn, xây dựng, cơ giới xếp dỡ, khai thác cảng… đây cũng là một lĩnh vực cần được quan tâm nghiên cứu, phát triển trong thời điểm đất nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tự động hóa vào các khu công nghiệp, bến cảng và giao thông vận tải để xây dựng nền kinh tế đất nước, hội nhập với thế giới bên ngoài.2 Cẩu giàn container (STS) Cùng với sự phát triển của ngành tự động hóa, đã có rất nhiều giải pháp được ứng dụng để tối ưu hóa hệ thống điều khiển, giám sát và vận hành cẩu trục.
Một trong các vấn đề đang được quan tâm hiện nay là giảm lắc cho tải khi cẩu vận hành. Đa số cẩu giàn container sử dụng cáp thép để treo tải, do đó việc dao động, lắc của tải là không thể tránh khỏi. Khi trạng thái của tải dao động, lắc sẽ dẫn đến các hạn chế chính sau: - Nguy cơ mất an toàn cho con người hư hỏng hàng hóa, hư hỏng thiết bị trong vùng làm việc khi tải dao động va chạm gây rơi, đổ. - Các kết cấu, thiết bị như khung, dầm, pulley, bạc đạn, gối đỡ, động cơ, thiết bị điện … sẽ bị giảm tuổi thọ và cáp hàng sẽ nhanh bị hư hỏng.
3 - Năng suất khai thác cảng được tính bằng thời gian xếp dỡ, khi tải bị dao động, thời gian khử lắc cao, tiến độ làm hàng chậm, ảnh hưởng đến năng suất hoạt động của nhà khai thác.3 Nguy cơ mất an toàn do tải dao động Một số phương pháp giảm lắc cho container trước đây như điều khiển motor tang tời phụ dùng cáp, điều khiển piston cylinder dùng cáp để giảm lắc cho cẩu bãi chạy ray (RMG crane), cẩu bãi chạy bánh lốp (RTG crane), giảm lắc bằng cách bắt chéo cáp hàng cho cẩu giàn (STS Crane) được ứng dụng khá rộng rãi tuy nhiên thời gian giảm lắc vẫn còn cao, vẫn phải phụ thuộc vào người vận hành, cần lắp thêm nhiều thiết bị cồng kềnh, kết quả thực tiễn không cao. Cùng với sự phát triển của ngành tự động hóa, thời gian gần đây có một số giải pháp điều khiển motor xe tời (trolley) theo hướng sử dụng thuật toán được các nhà sản xuất cẩu trục lớn như Kocks crane, Mitsui crane, Kalmar crane, ZBMC crane… đưa ra nhằm giảm lắc cho tải container. Các giải pháp này khắc phục được nhiều khuyết điểm nhưng vẫn chưa được lựa chọn nhiều do chưa hoàn toàn tự động, sử dụng khá phức tạp đồng thời chi phí rất cao và khách hàng tại Việt Nam chưa làm chủ được công nghệ. Như vậy, việc sử dụng các thuật toán để điều khiển motor xe tời (trolley) cùng với hệ thống cảm biến để giảm lắc của tải cho cẩu giàn container là cơ sở để nghiên cứu đưa ra giải pháp tốt nhất hiện nay.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự học tập, tạo điều kiện, giúp đỡ của 4 Trường Đại học Giao thông vận tải TP.HCM, Viện Đào tạo sau đại học và thầy PGS. Đặng Xuân Kiên, tác giả chọn đề tài là “Giải pháp giảm dao động của tải cho cẩu giàn Container dựa trên phương pháp điều khiển LQG”. Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.1 Một số hệ thống và công trình nghiên cứu giảm lắc trong thực tế a) Hệ thống giảm lắc không điều khiển của hãng Mitsui [13] Hình 1.4 Hệ thống giảm lắc sử dụng cáp - Hệ thống giảm lắc của hãng Mitsui (Nhật) sử dụng 8 sợi cáp thép, trong đó có 4 sợi cáp được bắt chéo nhau và liên kết với khung chụp container như Hình 1. - Khi có dao động ở tải, lực căng ở các sợi cáp sẽ thay đổi, hệ thống sử dụng động cơ Torque để đảm bảo lực căng trên sợi cáp trở về giá trị không đổi trong thời gian ngắn nhất.
Điều này đảm bảo tải sẽ không bị dao động. Nhận xét: Hệ thống giảm lắc sử dụng cáp là hệ thống đơn giản và được áp dụng nhiều nhất trên các cẩu khung có tốc độ chậm, chiều cao thấp như cẩu khung chạy ray, cẩu khung chạy bánh lốp. Hệ thống này không được sử dụng ở cẩu giàn STS với chiều cao lớn, tốc độ cao. Hệ thống không có điều khiển, hoàn toàn sử dụng bằng cơ, thời gian trở về cân bằng tải chậm, không kiểm soát được.
5 b) Hệ thống giảm lắc có điều khiển của hãng Kalmar [12] Hình 1.5 Hệ thống giảm lắc của hãng Kalmar - Hệ thống giảm lắc của hãng Kalmar (Bắc Âu) sử dụng cảm biến dao động theo trục tọa độ (X, Y) được đặt trên khung chụp container. Tín hiệu cảm biến được đưa vào bộ xử lý và truyền dữ liệu (sử dụng kiểu truyền dữ liệu CAN – Bus) của hãng Kalmar, để truyền dữ liệu phản hồi về bộ điều khiển khả lập trình PLC (hãng Siemens) của cẩu trục. - Bộ điều khiển khả lập trình PLC sử dụng thuật toán xử lý tín hiệu phản hồi và đưa tín hiệu đến bộ biến tần dùng để điều khiển động cơ di chuyển xe tời theo vòng kín. Lúc này xe tời sẽ được điều khiển di chuyển đến vị trí mong muốn với góc dao động của tải và thời gian đáp ứng theo thuật toán được lập trình.
Nhận xét: Hệ thống giảm lắc của hãng Kalmar là hệ thống sử dụng thuật toán để điều khiển, hệ thống này có giá thành cao với việc dùng cảm biến dao động và PLC có khả năng lập trình các thuật toán điều khiển hiện đại. Đổi lại, chất lượng đáp ứng khá tốt, thời gian giảm góc dao động của tải và tốc độ làm hàng nhanh hơn hệ thống điều khiển bằng cơ, tuy nhiên khi sử dụng đường truyền CAN – Bus và cảm biến dao động như trên, hệ thống chỉ ứng dụng cho các loại cẩu khung có chiều cao thấp. Đồng thời, cần nghiên cứu và lai ghép các thuật toán để điều khiển hệ thống được tối ưu hơn và bền vững với các loại nhiễu. 6 c) Hệ thống giảm lắc có điều khiển của hãng Satec [14] Hình 1.6 Hệ thống giảm lắc của hãng Satec - Hệ thống giảm lắc của hãng Satec (Hàn Quốc) sử dụng cảm biến hồng ngoại để nhận biết góc dao động của tải (STAD – 2000).
Tín hiệu cảm biến được đưa vào bộ điều khiển chống lắc bằng đường truyền RS422. Bộ điều khiển chống lắc sẽ đưa các dữ liệu vào bộ điều khiển khả lập trình PLC bằng đường truyền ProfiBus. - Bộ điều khiển khả lập trình PLC sử dụng thuật toán xử lý tín hiệu phản hồi và đưa tín hiệu đến bộ biến tần dùng để điều khiển động cơ di chuyển xe tời theo vòng kín. Lúc này xe tời sẽ được điều khiển di chuyển đến vị trí mong muốn với góc dao động của tải và thời gian đáp ứng theo thuật toán được lập trình.
Nhận xét: Tương tự như hệ thống giảm lắc của hãng Kalmar, tuy nhiên do sử dụng cảm biến hồng ngoại và và hệ thống tự động hiện đại hơn, do đó giá thành đắt hơn, đổi lại hệ thống này sử dụng được cho cẩu giàn STS tại cầu tàu với tốc độ cao, chiều cao có thể lên đến 40 mét, thời gian đáp ứng tốt hơn. Cũng như các hệ thống có điều khiển khác ta cần nghiên cứu và lai ghép các thuật toán để điều khiển hệ thống được tối ưu hơn và bền vững với các loại nhiễu. d) Nghiên cứu thuật toán giảm lắc dùng bộ điều khiển mờ chỉnh định PID [8] - Tác giả thực hiện: KANTHA RAO A/L SIMANJALAM. - Nơi thực hiện: Đại học Teknologi – Malaysia.
7 - Năm thực hiện: 2012 - Nguyên lý điều khiển: Hình 1.7 Sơ đồ nguyên lý điều khiển Fuzzy – PID Từ các cảm biến phản hồi vị trí của xe tời và góc dao động của tải, hệ số tỷ lệ, tích phân, vi phân của bộ điều khiển PID và PD được chỉnh định theo thời gian bằng thuật toán mờ. Với tín hiệu đặt xref thông qua bộ điều khiển và đối tượng điều khiển là Gantry crane (cẩu chạy) góc dao động của tải và vị trí xe tời sẽ đạt giá trị mong muốn. - Kết quả đạt được: 8 a) Đáp ứng vị trí xe tời b) Đáp ứng góc dao động của tải Hình 1.8 So sánh đáp ứng của cẩu giàn giữa thuật toán PID và FPID Nhận xét: Kết quả cho thấy sử dụng thuật toán mờ để chỉnh đỉnh các hệ số trong bộ điều khiển PID cho đáp ứng tốt hơn chỉ sử dụng đơn thuần thuật toán PID cơ bản. Tuy nhiên, trong mô phỏng, thời gian đáp ứng vẫn còn chậm, giá trị khối lượng của tải và chiều dài của cáp nhỏ, chưa cho thấy kết quả thực nghiệm cũng như phân tích trường hợp thực tế với tải trong container là hơn 40 tấn và chiều cao đạt đến 40 mét.