Chương 1: GIỚI THIỆU Tổng quan lý do hình thành đề tài; Mục tiêu nghiên cứu và Nội dung luận văn; Giới hạn và phạm vi luận văn. - Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN Tìm hiểu Các lý thuyết liên quan đến Bảo trì. Quy trình thực hiện nghiên cứu, Các công cụ hỗ trợ - Chương 3: PHÂN TÍCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Giới thiệu đối tượng nghiên cứu; Thực trạng quy trình bảo trì. - Chương 4: THỰC HIỆN CẢI TIẾN Sử dụng các cơ sở lý thuyết để tạo ra một lịch trình PM tối ưu, cũng như tính tần suất PM tối ưu nhằm giảm thiểu chi phí CM và PM.
- Chương 5: KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ KẾT LUẬN Kết quả thực hiện cải tiến và Kết luận 4 Chương 3. Phân tích đối tượng nghiên cứu CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2. Lý thuyết bảo trì: Bảo trì là hoạt động chăm sóc kĩ thuật, điều chỉnh, sửa chữa hoặc thay thế một hoặc nhiều chi tiết hay cụm chi tiết máy nhằm duy trì hoặc khôi phục các thông số hoạt động, bảo đảm máy móc thiết bị hoạt động với năng suất, tốc độ, tải trọng đã xác định trước.
[1] Khi đề cập đến bảo trì, nhiều doanh nghiệp cho rằng đối tượng bảo trì bao gồm máy móc thiết bị của nhà xưởng. Nhưng nếu hiểu một cách toàn diện thì hoạt động bảo trì phải được quan tâm ở tất cả các bộ phận liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Đối tượng của bảo trì bao gồm nhà xưởng, mặt bằng sản xuất, máy móc thiết bị sản xuất, thang máy, hệ thống điều hòa không khí, hệ thống máy phát điện, thậm chí cả căng tin và nhà vệ sinh công cộng. Bảo trì không chỉ đơn thuần là bảo trì phòng ngừa, mặc dù khía cạnh này là một thành phần quan trọng.
Bảo trì không phải chỉ là bôi trơn, mặc dù bôi trơn là một trong những chức năng chính của nó. Bảo trì cũng không chỉ đơn giản là một cuộc chạy đua điên cuồng để sửa chữa một bộ phận máy móc hoặc phân đoạn tòa nhà bị hỏng, mặc dù đây là hoạt động bảo trì chiếm ưu thế. Theo một khía cạnh tích cực hơn, bảo trì là một ngành khoa học vì việc thực hiện nó sớm hay muộn phụ thuộc vào hầu hết hoặc tất cả các hệ thống kiến thức. Đó là một nghệ thuật bởi vì các vấn đề thường xuyên xảy ra giống hệt nhau lại nhận được các cách tiếp cận và hành động khác nhau, bởi vì một số nhà quản lý, quản đốc và thợ máy thể hiện năng khiếu, kinh nghiệm về nó hơn những người khác.
Trên tất cả, nó là một triết lý bởi vì nó là một quy tắc có thể được áp dụng một cách sâu rộng, 5 Chương 3. Phân tích đối tượng nghiên cứu khiêm tốn, hoặc không, tùy thuộc vào một loạt các biến số thường vượt qua các giải pháp tức thời và rõ ràng. Hơn nữa, bảo trì là một triết lý vì nó phải được trang bị cẩn thận cho hoạt động hoặc tổ chức mà nó phục vụ như một bộ quần áo đẹp vừa vặn với người mặc và bởi vì cách những người thực thi nhìn nhận nó sẽ định hình hiệu quả của nó. [2] Quy trình bảo trì thiết bị công nghiệp gồm: - Lập kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng định kỳ: Lên kế hoạch bảo dưỡng định kỳ cho từng loại máy theo quy định của nhà sản xuất (Thời gian phát hiện hư hỏng, tình trạng thiết bị, vị trí đặt thiết bị, máy móc, nội dung bảo trì, giám sát hoạt động máy móc.) - Đề xuất xác nhận bảo dưỡng, bảo trì máy móc: Xác nhận hư hỏng của thiết bị, mức độ, tính khẩn cấp và làm đề xuất sớm để đảm bảo máy móc hoạt động ổn định.
- Tiến hành lên phương án sửa chữa, thay thế: Liên hệ với đơn vị bảo trì, lập phương án tiến hành bảo trì máy móc hợp lý nhất, đảm bảo đúng tiến độ và kịp thời cho nhu cầu sản xuất. - Kiểm tra và nghiệm thu: Giám sát quá trình bảo trì, nghiệm thu và đảm bảo máy móc hoạt động ổn định.1 Quy trình bảo dưỡng bảo trì thiết bị công nghiệp 6 Chương 3. Phân tích đối tượng nghiên cứu 2. Lợi ích bảo trì: Sau khi tìm hiểu qua khái niệm bảo trì là gì, ta sẽ điểm lại những lý do tại sao công tác bảo trì lại quan trọng đối với doanh nghiệp.
Tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp: Nếu như các công ty chờ đợi một bảo trì khắc phục sau khi máy móc, tài sản gặp sự cố thì số tiền để bỏ ra cho công tác sửa chữa này luôn luôn là một khoản xứng đáng để “đau đầu”. Chưa kể đến những khoản chi phí thiệt hại khi tài sản gặp sự cố, ngưng hoạt động như: thời gian làm việc của nhân công, hiệu suất công việc, kế hoạch sản xuất, số tiền đền bù thiệt hại, tiền thuê đội ngũ sửa chữa bên ngoài…. Chính vì lẽ đó, một công việc bảo trì đúng cách, đúng thời điểm có thể coi là “công cụ vàng” để doanh nghiệp tiết kiệm được khoản chi phí khổng lồ, tối ưu được nguồn lực tổng thể. Những kế hoạch bảo trì, đặc biệt là bảo trì phòng ngừa có khả năng tiết kiệm ngân sách cho doanh nghiệp vì các nỗ lực sẽ tập trung vào việc ngăn ngừa sự cố thiết bị thay vì ứng phó với các trường hợp khẩn cấp.
Cải thiện an toàn trong môi trường làm việc: Khi tài sản, thiết bị không được hoạt động trong một điều kiện tối ưu, chúng sẽ tạo ra khá nhiều mối nguy hiểm. Đặc biệt điều kiện làm việc không an toàn thậm chí là các tình huống khẩn khi công nhân bị tai nạn. Bảo trì phòng ngừa sẽ cải thiện sự an toàn của máy móc, do đó sự an toàn của nhân viên nói riêng và môi trường làm việc nói chung sẽ hạn chế được tai nạn ngoài ý muốn. Phân tích đối tượng nghiên cứu 2.
Chăm sóc và điều chỉnh hoạt động: Bảo trì trong doanh nghiệp góp phần cực kỳ quan trọng trong việc chăm sóc và điều chỉnh những vấn đề kỹ thuật, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, góp phần đảm bảo các máy móc hoạt động tốt nhất, đạt tiêu chuẩn về kỹ thuật, chất lượng cũng như hiệu suất làm việc. Có rất nhiều doanh nghiệp đã hiểu một cách hạn hẹp về ý nghĩa của sự bảo trì, khi mà cho rằng nhắc tới bảo trì thì chỉ mang ý nghĩa trong việc chăm sóc, bảo dưỡng, sửa chữa những thiết bị máy móc trong nhà máy, phân xưởng để chúng hoạt động tốt và nâng cao tuổi thọ hơn. Thế nhưng, công tác bảo trì trong thực tiễn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế, khi chúng chính là hoạt động có mặt trong tất cả các công việc kinh doanh và sản xuất, ở bất kỳ khâu nào. Đối tượng của hoạt động bảo trì là những nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh, thiết bị máy móc, hệ thống điều hoà thang máy, … 2.
Tăng hiệu quả thiết bị: Qua các kế hoạch bảo trì định kỳ, những hoạt động nhỏ như kiểm tra, thay thế linh kiện, vệ sinh, … đều được thực hiện đồng đều, có kế hoạch chủ động, giúp những thiết bị vận hành hiệu quả hơn. Đổi lại, doanh nghiệp cũng sẽ nhận được lợi ích từ việc tiết kiệm năng lượng và nhiên liệu vì thiết bị sẽ hoạt động với hiệu năng cao nhất. Cải thiện độ tin cậy: Một công việc bảo trì nếu được thực hiện một cách hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp trở thành đối tác kinh doanh đáng tin cậy hơn. Bởi lẽ, khách hàng thường sẽ có xu hướng tin tưởng vào một đơn vị cung cấp sản phẩm, vật liệu hoặc dịch vụ đúng hạn mà không có sự chậm trễ ngoài ý muốn như máy móc hỏng, gặp sự cố trong khâu sản xuất, … Một nhà hàng với điều hòa bị hỏng sẽ không bao giờ thu hút được khách hàng về mặt lâu dài.
Bằng cách luôn cung cấp những sản phẩm, dịch vụ đáng tin cậy, 8 Chương 3. Phân tích đối tượng nghiên cứu một doanh nghiệp có thể nâng cao dịch vụ khách hàng và cải thiện hình ảnh thương hiệu của mình. Bảo quản tài sản: Tài sản máy móc dùng trong doanh nghiệp thường không hề rẻ. Một doanh nghiệp luôn quan tâm đến chất lượng tài sản của mình sẽ càng có khả năng tồn tại bền vững.
Bảo trì phòng ngừa sẽ giúp kéo dài tuổi thọ của các tài sản trong doanh nghiệp. Để những tài sản đó có thể đồng hành lâu hơn cùng với doanh nghiệp. Lâu dài có thể thúc đẩy việc tăng lợi nhuận và giảm nhiều chi phí. Các hình thức bảo trì: Trải qua các giai đoạn phát triển, hiện nay có ba mục bảo trì chính là bảo trì phòng ngừa (PM - Preventive Maintenance), bảo trì khắc phục (CM - Corrective Maintenance) và bảo trì phòng ngừa tổng thể (TPM – Total Preventing Maintenance).2 Các giai đoạn phát triển của bảo trì 2.
Bảo trì khắc phục (Corrective Maintenance/ Breakdown Maintenance): Bảo trì khắc phục, hay còn được gọi là Bảo trì hư hỏng, là một chiến lược Run- To-Fail (Chạy đến thất bại), được sử dụng để khôi phục chức năng của một thiết bị, bộ phận sau khi chúng xảy ra hỏng hóc hay sự cố. Phương pháp bảo trì này ứng dụng 9 Chương 3. Phân tích đối tượng nghiên cứu khi sự cố này có thể chấp nhận được trong doanh nghiệp (tức là không gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất), đồng thời việc ngăn ngừa sự cố trước đó có thể gây tốn kém và không khả thi hơn là thay thế/sửa chữa. Ngoài việc bảo trì khắc phục là kết quả của chiến lược “hỏng đâu sửa đấy” có chủ ý thì đây cũng là kết quả của những sự cố ngoài kế hoạch không tránh được thông qua Bảo trì phòng ngừa.
Khi một doanh nghiệp ứng dụng phương pháp bảo trì khắc phục, phải đảm bảo rằng các chế độ lỗi được xem xét không có khả năng trở thành sự cố khẩn cấp, không làm đảo lộn các kế hoạch cũng như lịch trình định kỳ của doanh nghiệp. Nếu như áp dụng chiến lược Run-to-Fail này với một loại thiết bị mà khi chúng bị lỗi lại cần phải đầu tư nguồn lực khôi phục ngay lập tức để tránh gây hậu quả thì thực sự quá tốn kém và nhiều rủi ro. Bảo trì phòng ngừa (Preventive Maintenance): Khái niệm bảo trì phòng ngừa (PM) được hình thành từ Mỹ vào năm 1951. Trước đó, các công ty chỉ thực hiện bảo dưỡng sửa chữa (breakdown maintenance), tức là công việc bảo dưỡng chỉ được thực hiện sau khi có sự cố hỏng hóc xảy ra.