CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TRUY CẬP TỪ XA 1. Giới thiệu về dịch vụ truy cập từ xa Dịch vụ truy cập từ xa cho phép người dùng từ xa có thể truy cập từ một máy tính qua môi trường mạng truyền dẫn đến một mạng riêng như thể máy tính đó được kết nối trực tiếp với mạng đó. Người dùng từ xa kết nối tới mạng thông qua một máy chủ dịch vụ gọi là máy chủ truy cập (Access server). Khi đó người dùng từ xa có thể sử dụng tài nguyên trên mạng như là một máy tính kết nối trực tiếp trên mạng đó.
Dịch vụ truy cập từ xa cũng là cầu nối để một máy tính hay một mạng máy tính thông qua nó được nối đến internet theo cách được coi là hợp lý với chi phí không cao, phù hợp với các doanh nghiệp, tổ chức với quy mô vừa là nhỏ. Khái niệm dịch vụ truy cập từ xa Truy cập từ xa đề cập đến khả năng truy cập máy tính, chẳng hạn như máy tính gia đình hoặc máy tính mạng văn phòng, từ một địa điểm từ xa. Điều này cho phép nhân viên làm việc bên ngoài, chẳng hạn như ở nhà hoặc ở một địa điểm khác, trong khi vẫn có quyền truy cập vào một máy tính hoặc mạng ở xa, chẳng hạn như mạng văn phòng. Truy cập từ xa có thể được thiết lập bằng mạng cục bộ (LAN), mạng diện rộng (WAN) hoặc thậm chí là mạng riêng ảo (VPN) để tài nguyên và hệ thống có thể được truy cập từ xa.
Truy cập từ xa còn được gọi là đăng nhập từ xa. Truy cập từ xa có thể được thiết lập thông qua một đường chạy giữa máy tính và mạng cục bộ (LAN) của công ty. Một kết nối cũng có thể được thiết lập giữa mạng LAN của công ty và mạng LAN từ xa bằng cách sử dụng một đường chuyên dụng. Loại đường này cung cấp tốc độ nhanh hơn nhưng có nhược điểm là đắt hơn.
Một phương pháp khác để thực hiện truy cập từ xa là thiết lập VPN, một mạng thường sử dụng Internet để kết nối các trang web và người dùng từ xa với nhau. Loại mạng này sử dụng mã hóa và đường hầm để truy cập mạng của công ty. Đây có thể là một lựa chọn tuyệt vời cho một tổ chức tương đối nhỏ. Các phương tiện khác để thiết lập truy cập từ xa bao gồm việc sử dụng mạng truyền số liệu số đa dịch vụ, mạng không dây, modem cáp hoặc đường dây thuê bao kỹ thuật số.
Để thiết lập kết nối từ xa, cả máy cục bộ và máy tính/máy chủ từ xa phải có phần mềm truy cập từ xa. Ngoài ra, có những nhà cung cấp dịch vụ cung cấp truy cập từ xa thông qua Internet. Khi lựa chọn và thiết kế giải pháp truy cập từ xa, cần quan tâm đến vấn đề sau: − Số lượng kết nối tối đa có thể phục vụ người dùng từ xa − Các nguồn tài nguyên mà người dùng từ xa muốn truy cập − Công nghệ, phương thức và thông lượng kết nối − Các phương thức an toàn cho dịch vụ truy cập từ xa, phương thức xác thực người dùng, phương thức mã hóa dữ liệu − Các giao thức mạng sử dụng để kết nối 1. Chức năng chính của dịch vụ truy cập từ xa Chức năng của dịch vụ truy cập từ xa là cho phép người dùng truy cập từ xa vào các nguồn máy tính và mạng, dù người dùng đang ở bất kỳ đâu.
Chức năng truy cập từ xa đảm bảo cho người dùng luôn có quyền truy cập vào các thiết bị khi người dùng cần chúng. Một trong những ứng dụng của dịch vụ này nữa là, khi người dùng muốn thực hiện bảo trì công nghệ thông tin hay truy xuất các tập tin, người dùng đều có thể truy cập các thiết bị từ xa trong khi đang làm việc ở nhà. Những hạn chế của dịch vụ truy cập từ xa Một số hạn chế còn tồn tại trong dịch vụ truy cập từ xa đó là: − Tốc độ kết nối chưa ổn định khi thực hiện phiên làm việc lần đầu. − Thường được thiết kế để hoạt động sau tường lửa nên có thể bị lợi dụng để tấn công chính máy tính được điều khiển.
− Tồn tại nhiều nguy cơ mất an toàn như : bị đánh cắp dữ liệu, bị đánh cắp thông tin cá nhân,. Các giao thức truy cập từ xa SLIP (Serial Line Interface Protocol), PPP và Microsoft RAS, Telnet là các giao thức truy cập để tạo lập kết nối được sử dụng trong truy cập từ xa. SLIP là giao thức truy cập kết nối điểm-điểm và chỉ hỗ trợ sử dụng với giao thức IP, hiện nay hầu như không còn được sử dụng. Microsoft RAS là giao thức riêng của Microsoft hỗ trợ sử dụng cùng với các giao thức NetBIOS, NetBEUI và được sử dụng trong các phiên bản cũ của Microsoft.
PPP giao thức truy cập kết nối điểm-điểm với khá nhiều tính năng ưu việt, là một giao thức chuẩn được hầu hết các nhà cung cấp hỗ trợ. RFC 1661 định nghĩa về PPP. Chức năng cơ bản của PPP là đóng gói thông tin giao thức lớp mạng thông qua các liên kết điểm – điểm. TELNET (TErminaL NETwork) là một giao thức mạng (network protocol) được dùng trên các kết nối với Internet hoặc các kết nối tại mạng máy tính cục bộ LAN.
TELNET thường được dùng để cung cấp những phiên giao dịch đăng nhập, giữa các máy trên mạng Internet, dùng dòng lệnh có tính định hướng người dùng. Telnet được biết đến là giao thức đầu tiên được sử dụng khi internet ra mắt lần đầu vào năm 1969. Telnet cung cấp một giao diện dòng lệnh đáp ứng hầu hết các tiêu chuẩn cơ bản. Giao thức PPP Tiến trình truy cập từ xa được mô tả như sau: người dùng từ xa khởi tạo một kết nối tới máy chủ truy cập.
Kết nối này được tạo lập bằng việc sử dụng một giao thức truy cập từ xa (ví dụ giao thức PPP- Point to Point Protocol). Máy chủ truy cập xác thực người dùng và chấp nhận kết nối cho tới khi kết thúc bởi người dùng hoặc người quản trị hệ thống. Máy chủ truy cập đóng vai trò như một gateway bằng việc trao đổi dữ liệu giữa người dùng từ xa và mạng nội bộ. Bằng việc sử dụng kết nối này, người dùng từ xa gửi và nhận dữ liệu từ máy chủ truy cập.
Dữ liệu được truyền trong các khuôn dạng được định nghĩa bởi các giao thức mạng (ví dụ giao thức TCP/IP) và sau đó được đóng gói bởi các giao thức truy cập từ xa. Tất cả các dịch vụ và các nguồn tài nguyên trong mạng người dùng từ xa đều có thể sử dụng thông qua kết nối truy cập từ xa này. Cơ chế làm việc và vận hành của PPP như sau: Để thiết lập truyền thông, mỗi đầu cuối của liên kết PPP phải gửi các gói LCP (Link Control Protocol) để thiết lập và kiểm tra liên kết dữ liệu. Sau khi liên kết được thiết lập với các tính năng tùy chọn được sắp đặt và thỏa thuận giữa hai đầu liên kết, PPP gửi các gói NCP (Network Control Protocol) để lựa chọn và cấu hình một hoặc nhiều giao thức lớp mạng.
Mỗi lần một giao thức lớp mạng lựa chọn đã được cấu hình, lưu lượng từ mỗi giao thức lớp mạng có thể gửi qua liên kết này. Liên kết tồn tại cho đến khi các gói LCP hoặc NCP đóng kết nối hoặc đến khi một sự kiện bên ngoài xẩy ra (chẳng hạn như một sự kiện hẹn giờ hay một sự can thiệp của người quản trị). Nói cách khác PPP là một con đường mở đồng thời cho nhiều giao thức. PPP khởi đầu được phát triển trong môi trường mạng IP, tuy nhiên nó thực hiện các chức năng độc lập với các giao thức lớp 3 và có thể được sử dụng cho các giao thức lớp mạng khác nhau.
Như đã đề cập, PPP đóng gói các thủ tục lớp mạng đã được cấu hình để chuyển qua một liên kết PPP. PPP có nhiều các tính năng khiến nó rất mềm dẻo và linh hoạt, bao gồm: − Ghép nối với các giao thức lớp mạng − Lập cấu hình liên kết − Kiểm tra chất lượng liên kết − Nhận thực − Nén các thông tin tiếp đầu − Phát hiện lỗi − Thỏa thuận các thông số liên kết PPP hỗ trợ các tính năng này thông qua việc cung cấp LCP có khả năng mở rộng và NCP để thỏa thuận các thông số và các chức năng tùy chọn giữa các đầu cuối. Các giao thức, các tính năng tùy chọn, kiểu xác thực người dùng tất cả đều được truyền thông trong khi khởi tạo liên kết giữa hai điểm. PPP có thể hoạt động trong bất kỳ giao diện DTE/DCE nào, PPP có thể hoạt động ở chế độ đồng bộ hoặc không đồng bộ.
Ngoài những yêu cầu khác của các giao diện DTE/DCE, PPP không có hạn chế nào về tốc độ truyền dẫn. Trong hầu hết các công nghệ mạng WAN, mô hình lớp được đưa ra để có những điểm liên hệ với mô hình OSI và để diễn tả vận hành của các công nghệ cụ thể. PPP không khác nhiều so với các công nghệ khác. PPP cũng có mô hình lớp để định nghĩa các cấu trúc và chức năng.
OSl layer Upper-layer protocols 3 (IP.AppleTaIk) NCP (Network Control Protocol) 2 LCP (Link Comtrol Protocol) HDLC (High Level Data Link Control) 1 Physical Layyer (eia/tia-232.1: Cấu trúc khung PPP Cũng như hầu hết các công nghệ, PPP có cấu trúc khung, cấu trúc này cho phép đóng gói bất cứ giao thức lớp 3 nào. Dưới đây là cấu trúc khung PPP. Quá trình thực hiện PPP Giao thức PPP được sử dụng để đóng gói các gói tin thành các khung PPP và gửi dữ liệu trên các kết nối điểm – điểm. Có năm bước cần tiến hành trong quá trình thương lượng kết nối PPP, đó là: 1.
Sau khi các gói dữ liệu đã được đóng gói, nguồn gửi khung LPC qua kết nối điểm – điểm tới đích. Các tham số này thường được dùng để cấu hình liên kết bằng việc chỉ rõ các tham số và kiểm tra liên kết đã được thiết lập. Sau khi đích chấp nhận yêu cầu kết nối và một liên kết được thiết lập thành công, các tham số lựa chọn được thương lượng nếu đã chỉ rõ bởi các LCP. Nguồn sau đó gửi khung NCP để lựa chọn và cấu hình giao thức tầng mạng.
Sau khi giao thức tầng mạng yêu cầu được cấu hình thì cả hai bắt đầu trao đổi dữ liệu. PPP Link Source Node Destination Node 1 LCP Frames Link configuration Nagotiation of 2 and téting 3 Optional Parameter 4 NCP Exchange 5 Establishment&Configuation Of Network Layer Protocol 6 Data Exchange Hình 1.