Chương 1: Tổng quan về bất biến và nhận dạng đối tượng Chương này trình bày định nghĩa các loại bất biến, lý thuyết điểm bất động, cũng như bài toán nhận dạng đối tượng và cách giải quyết. Chương 2: Các phương pháp xác định điểm bất động trong ảnh Chương này trình bày các kỹ thuật xác định các điểm bất động trong ảnh để xây dựng các đặc trưng bất biến của đối tượng và sử dụng các đặc trưng này cho việc so khớp nhận dạng đối tượng. Chương 3: Ứng dụng điểm bất động trong nhận dạng đối tượng Trong phần này luận văn trình bày ứng dụng nhận dạng đối tượng dựa vào các đặc trưng bất biến được xây dựng từ các điểm bất động, cài đặt thử nghiệm một phương pháp đã trình bày ở chương 2. z 5 Chƣơng 1 – TỔNG QUAN VỀ BẤT BIẾN VÀ NHẬN DẠNG ĐỐI TƢỢNG Chương này trình bày tổng quan về bài toán nhận dạng đối tượng trong ảnh, đề cập đến hai vần đề chính là các dạng bất biến trong ảnh và lý thuyết điểm bất động.1 Tổng quan về nhận dạng Trong lý thuyết nhận dạng nói chung và nhận dạng ảnh nói riêng có 3 cách tiếp cận khác nhau: - Nhận dạng dựa vào phân hoạch không gian - Nhận dạng cấu trúc - Nhận dạng dựa vào kỹ thuật mạng nơron Hai cách tiếp cận đầu là các kỹ thuật kinh điển.
Các đối tượng ảnh được quan sát và thu nhận được phải trải qua giai đoạn tiền xử lý nhằm tăng cường chất lượng, làm nổi các chi tiết, tiếp theo là trích chọn và biểu diễn các đặc trưng và cuối cùng mới qua giai đoạn nhận dạng. Cách tiếp cận thứ ba hoàn toàn khác. Nó dựa vào cơ chế đoán nhận, lưu trữ và phân biệt đối tượng mô phỏng theo hoạt động của hệ thần kinh con người. Do cơ chế đặc biệt, các đối tượng thu nhận bởi thị giác người không cần qua giai đoạn cải tiến mà chuyển sang giai đoạn tổng hợp, đối sánh các mẫu đã lưu trữ để nhận dạng.
Nhận dạng là quá trình phân loại các đối tượng được biểu diễn theo một mô hình nào đó và gán cho chúng một lớp (gán cho đối tượng một tên gọi) dựa theo các quy luật và các mẫu chuẩn. Quá trình nhận dạng dựa vào những mẫu học biết trước gọi là nhận dạng có thầy hay học có thầy; trong trường hợp ngược lại gọi là học không có thầy.1 Không gian biểu diễn đối tƣợng, không gian diễn dịch 1.1 Không gian biểu diễn đối tƣợng Các đối tượng khi quan sát hay thu nhận được, thường được biểu diễn bởi tập các đặc trưng hay đặc tính. Như trong trường hợp xử lý ảnh, ảnh sau khi được tăng cường để nâng cao chất lượng, phân vùng và trích chọn đặc tính được biểu diễn bởi các đặc trưng như biên, miền đồng nhất, v. Người ta thường phân các đặc trưng này theo các loại như: đặc trưng tôpô, đặc trưng hình học và đặc trưng chức năng.
Việc biểu diễn ảnh theo đặc trưng nào là tùy thuộc vào từng ứng dụng. Ở đây ta đưa ra một cách hình thức cho việc biểu diễn các đối tượng. Giả sử đối tượng X được biểu diễn bởi n thành phần (n đặc trưng): X={x1, x2,…,xn}; mỗi xi biểu diễn một đặc trưng. Không gian biểu diễn đối tượng thường gọi tắt là không gian đối tượng X được định nghĩa: X = { X1, X2,…, Xm} trong đó mỗi Xi biểu diễn một đối tượng.
Không gian này có thể là vô hạn. Để xem xét chúng ta chỉ xét tập X là hữu hạn.2 Không gian diễn dịch Không gian diễn dịch là tập các tên gọi của đối tượng. Kết thúc quá trình nhận dạng ta xác định được tên gọi cho các đối tượng trong tập không gian đối tượng hay nói cách khác là đã nhận dạng được đối tượng. Một cách hình thức gọi là tập tên đối tượng: = {w1, w2, …, wk} với wi, i = 1, 2,…, k là tên của các đối tượng Quá trình nhận dạng đối tượng f là một ánh xạ f: X với f là tập các quy luật để định một phần tử trong X ứng với một phần tử trong .2 Mô hình và bản chất của quá trình nhận dạng 1.1 Mô hình Việc lựa chọn một quá trình nhận dạng có liên quan mật thiết đến kiểu mô tả mà người ta sử dụng để đặc tả đối tượng.
Trong nhận dạng, người ta phân chia làm hai họ lớn: z 7 - Họ mô tả theo tham số - Họ mô tả theo cấu trúc Cách mô tả được lựa chọn sẽ xác định mô hình của đối tượng. Như vậy, chúng ta sẽ có hai loại mô hình: mô hình theo tham số và mô hình theo cấu trúc. * Mô hình tham số: sử dụng một vectơ để đặc tả đối tượng. Mỗi phần tử của vectơ mô tả một đặc tính của đối tượng.
Ví dụ trong các đặc trưng chức năng, người ta sử dụng các cơ sở trực giao để biểu diễn. Và như vậy, ảnh sẽ được biểu diễn bởi một chuỗi các hàm trực giao. Giả sử C là đường bao của ảnh và C(i,j) là điểm thứ i trên đường bao, i = 1, 2,…, N (đường bao gồm N điểm). 1 N Giả sử tiếp: x0 xi N i1 1 N y 0 yi N i1 là tọa độ tâm điểm.
Như vậy, moment trung tâm bậc p, q của đường bao là: 1 N μ pq N i1 (x i -x 0 )p (yi -y0 )q Vectơ tham số trong trường hợp này chính là các moment ij với i = 1, 2,…, p và j = 1, 2,…, q. Còn trong số các đặc trưng hình học, người ta sử dụng chu tuyến, đường bao, diện tích và tỷ lệ T = 4S/p2, với S là diện tích, p là chu tuyến. Việc lựa chọn phương pháp biểu diễn sẽ làm đơn giản cách xây dựng. Tuy nhiên, việc lựa chọn đặc trưng nào là hoàn toàn phụ thuộc vào ứng dụng.
* Mô hình cấu trúc: cách tiếp cận của mô hình này dựa vào việc mô tả đối tượng nhờ một số khái niệm biểu thị các đối tượng cơ sở trong ngôn ngữ tự nhiên. Để mô tả đối tượng, người ta dùng một số dạng nguyên thủy như đoạn thẳng, cung, v.v… Trong mô hình này, người ta sử dụng một bộ ký hiệu kết thúc Vt, một bộ ký hiệu không kết thúc gọi là Vn. Ngoài ra có dùng một tập các luật sản xuất để mô tả cách xây dựng các đối tượng phù hợp dựa trên các đối tượng đơn giản hoặc các đối tượng nguyên thủy (tập Vt). Trong cách tiếp cận này, ta chấp nhận một khẳng định là: cấu trúc một dạng là kết quả của việc áp dụng luật sản xuất theo những nguyên tắc xác định bắt đầu từ một dạng gốc bắt đầu.
Một z 8 cách hình thức, ta có thể coi mô hình này tương đương một văn phạm G = (V t, Vn, P, S) với: - Vt là bộ ký hiệu kết thúc, - Vn là bộ ký hiệu không kết thúc, - P là luật sản xuất, - S là dạng (ký hiệu bắt đầu).2 Bản chất của quá trình nhận dạng Quá trình nhận dạng gồm 3 giai đoạn chính: - Lựa chọn mô hình biểu diễn đối tượng - Lựa chọn luật ra quyết định (phương pháp nhận dạng) và suy diễn quá trình học. - Học nhận dạng. Khi mô hình biểu diễn đối tượng đã được xác định, có thể là định lượng (mô hình tham số) hay định tính (mô hình cấu trúc), quá trình nhận dạng chuyển sang giai đoạn học. Học là giai đoạn rất quan trọng.
Thao tác học nhằm cải thiện, điều chỉnh việc phân hoạch tập đối tượng thành các lớp. Việc nhận dạng chính là tìm ra quy luật và các thuật toán để có thể gán đối tượng vào một lớp hay nói cách khác gán cho đối tượng một tên. Nhìn chung, dù là mô hình nào và kỹ thuật nhận dạng ra sao, một hệ thống nhận dạng có thể tóm tắt theo sơ đồ sau: Trích chọn đặc trƣng Phân lớp trả lời Đánh giá biểu diễn đối tƣợng ra quyết định Quá trình tiền xử lý Khối nhận dạng Hình 1. Sơ đồ tổng quát một hệ nhận dạng 1.3 Bài toán nhận dạng đối tƣợng ảnh Cho trước các đối tượng hai chiều.
Tồn tại nhiều bài toán nhận dạng khác nhau đối với các đối tượng ảnh hai chiều. z 9 Bài toán 1: Cho hai đối tượng ảnh hai chiều trong Hình 1. Hãy so sánh xem chúng có giống nhau hay không? Hình 1. Hai đối tƣợng trên mặt phẳng Bài toán này con người có thể giải quyết một cách nhanh chóng (Hai đối tượng này có diện tích giống nhau và chỉ khác nhau một lỗ hổng).
Nhưng đối với máy thì việc giải bài toán này không dễ dàng gì. Bài toán 2: Cho hai đối tượng ảnh có kích thước khác nhau và đặt tùy ý trên mặt phẳng. Hãy so sánh xem chúng có “giống nhau” hay không? Để giải bài toán này con người đặt chúng lại theo vị trí thích hợp sao cho hướng nằm của chúng giống nhau. Sau đó dùng các độ đo khác nhau để so sánh hai đối tượng này.
Chẳng hạn, khi đặt các đối tượng theo các vị trí mới cần sử dụng các phép biến đổi như quay, tịnh tiến. Trong các hoàn cảnh khác nhau người ta có thể xem rằng hai đối tượng đồng dạng là giống nhau. Do đó, trong quá trình giải bài toán này con người đã tự mã hóa các thông số của các đối tượng ảnh bất biến theo vị trí, hướng và tỷ lệ. Đây là một việc rất khó khăn.
Bài toán 3: Cho các đối tượng trong Hình 1. Hãy phân loại chúng thành hai lớp. Để giải bài toán này con người có thể phân chia các đối tượng thành hai lớp đó là tứ giác {b,c,e} và hình tròn {a,d}. Người ta cũng có thể chia thành hai lớp các đối tượng có diện tích bằng nhau {a,b,c} và {d,e}.
Các tứ giác và hình tròn trên mặt phẳng hai chiều z 10 Bài toán nhận dạng các đối tượng hai chiều rất phức tạp, nó liên quan đến các ràng buộc giữa các đặc trưng hình học. Trong hình có các biểu diễn như cạnh, đỉnh, các góc. Hai đối tượng được coi là giống nhau nếu chúng thỏa mãn ràng buộc nào đó. Các ràng buộc này rất phức tạp.
Bài toán 4: Cho tập hữu hạn các đối tượng, được gọi là mẫu. Hãy so sánh một đối tượng mới xem chúng có giống một trong các đối tượng mẫu hay không? Rõ ràng để giải quyết bài toán này thì các đối tượng cần phải được mã hóa thành các tham số. Cần so sánh các tham số của đối tượng với các tham số mẫu. Do đó xuất hiện nhu cầu cho việc mã hóa các đối tượng mẫu.