Mở đầu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả và bàn luận - Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm Trong đầu tư, mọi quyết định đều dựa trên lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu và tiếp theo là độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, luôn tồn tại sự đánh đổi giữa lợi nhuận thu được và rủi ro.
Nhà đầu tư sử dụng tỷ suất sinh lợi để đo lường khả năng sinh lợi của vốn đầu tư. Một số khái niệm được trích từ nghiên cứu trước (Nguyễn Minh Kiều, 2009) như sau: - Lợi nhuận: là phần thu nhập hay số tiền kiếm được từ khoản đầu tư. Như vậy lợi nhuận đầu tư có được từ hai nguồn: (1) cô tức được hưởng từ cổ phiếu, và (2) lợi vốn - tức là lợi tức có được do chứng khoán tăng giá.=P,\) Pp t-1 R Trong do: R là lợi nhuận thực (hoặc kỳ vọng), D, là cô tức, P, là giá cổ phiếu ở thời điểm t, va P ,.; 1a giá cô phiếu ở thời điểm (t — 1). Nếu ly cổ tức và giá cổ phiếu theo giá trị thực tế thì chúng ta có lợi nhuận thực, nếu lấy cổ tức và giá cổ phiếu theo số liệu kỳ vọng thì chúng ta có lợi nhuận kỳ vọng - Tỷ suất sinh lợi: là lợi nhuận có được từ một đồng vốn đầu tư, thường được biểu thị bằng tỉ lệ phần trăm giữa mức lợi nhuận thu được và giá trị khoản đầu tư bỏ ra.
Tỷ suất sinh lợi được tính toán theo kỳ hạn (1 tháng, I quý hoặc I năm. - Rủi ro : định nghĩa về rủi ro rất phong phú và đa dạng, nhưng có thể chia thành 2 trường phái lớn đó là: Trường phái truyền thống và trường phái hiện đại. Theo trường phái truyền thống: Rui ro duge xem là những thiệt hại, mat mat, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không tốt có thê xảy ra cho con người. Đối với một doanh nghiệp thì đó là sự tồn thất về tài sản hay sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến.
Rủi ro còn được hiểu là những bat trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự ton tại và phát triển của một doanh nghiệp. Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự không chắc chắn một tình trạng bat ôn có thê đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tốn thất, mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Ở đây, rủi ro chính là sự sai biệt của tỷ suất sinh lời thực tế so với tỷ suất sinh lời kỳ vọng.
Phần thưởng hay phần bù (premium): là lợi tức thu được từ việc bán hàng hóa dịch vụ, cổ phiếu, trái phiếu, ngoại tệ cao hơn giá mua. Vì để thu được lợi nhuận từ các giao dịch này, nhà đầu tư phải chấp nhận rủi ro, nên lợi nhuận thu được coi là “phần thưởng” cho sự mạo hiểm, tức sẵn sàng chấp nhận rủi ro (mất vốn, lỗ vốn.) (Nguyễn Van Ngoc, 2006) Lãi suất phi rủi ro: Hiển nhiên khi giả định lãi suất trên tín phiếu và trái phiếu kho bạc là lãi suất phi rủi ro chuẩn cho những người kinh doanh phái sinh giao dịch với các tổ chức tài chính ( Nguyễn Văn Ngọc, 2006) MKT (the excess return on the market.): nhân tố lợi nhuận thị trường vượt trội, MKT= (R„-R ;) là chênh lệch giữa suất sinh lợi danh mục thị trường (R m) với suất sinh lợi phi rủi ro (R ¿). (Trích từ Nguyễn Thị Thúy Nhị, 2016) SMB (Small Minus Big): Nhân tố quy mô công ty, bằng chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi bình quân trên danh mục đầu tư của những cô phiếu nhỏ và tỷ suất sinh lợi bình quân trên danh mục đầu tư của những cổ phiếu lớn. DMĐT còn được xem là sự kết hợp của hai hay nhiều loại tài sản khác nhau hoặc chứng khoán trong đầu tư (Trích từ Nguyễn Minh Kiều, 2009).
Theo (Nguyễn Văn Ngọc, 2006), các nhà đầu tư muốn mua nhiều loại chứng khoán tài chính khác nhau để phân tán rủi ro. Họ cũng có thể tìm kiếm một kết hợp các chứng khoán tài chính trong đó một số đem lại lợi tức ngắn hạn cao, một SỐ có thể lên giá trong thời hạn dài khi giá thị trường của chúng tăng đáng kê. Lý thuyết về DMĐT hiện đại được giới thiệu lần đầu tiên vào những năm 1950 bởi nhà kinh tế học Harry Markowitz. Theo đó, học thuyết này khuyến cáo các nhà đầu tư “đừng bỏ tất cả trứng vảo một cái g1ỏ”, tức nhà đầu tư nên đa dạng hóa DMĐT của mình, bằng cách này có thể giảm được rủi ro từ thị trường mang lại tác động lên lãi suất kỳ vọng của DMĐT mà mình đang đầu tư.
DMĐT mà tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao ở mức rủi ro thấp nhất mà nhà đầu tư có thể chấp nhận thì được coi là DMĐT hiệu quả. Nhưng để thiết lập một DMĐT hiệu quả này không đơn giản, trước khi quyết định đầu tư thì nhà đầu tư nên cân nhắc các yếu tố liên quan, cụ thể: mục tiêu đầu tư, mức độ rủi ro có thể chấp nhận, kiến thức về lĩnh vực đang muốn đầu tư, xác định thời điểm mua và bán hợp lý. Lý thuyết về danh mục đầu tư Harry Makowitz (1952) giới thiệu lý thuyết DMĐT hiện dai (Modern portfolio theory). Lý thuyết đưa ra phương pháp chọn lựa DMĐT để tối thiểu hóa rủi ro thị trường với một mức tỷ suất sinh lợi kỳ vọng, đa dạng hóa các cô phiếu giúp làm giảm phương sai ở các mức lợi nhuận của danh mục cổ phiếu bằng cách chọn Các giả định của lý thuyết DMĐT Markowitz: - Rủi ro được xem là mức bất ôn của tỷ suất sinh lời, vì vậy thước đo của rủi ro chính là phương sai và độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời.
- Tỷ suất sinh lợi phải là phân phối chuẩn - Các nhà đầu tư đều không mong muốn rủi ro nhưng họ sẽ chấp nhận rủi ro ở mức độ khác nhau. - Thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro chính là sự khác biệt trong tỷ suất sinh lợi kỳ vọng - Các nhà đầu tư luôn tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng trong một thời kỳ nhất định - Đường biên hiệu quả của nhà đầu tư là một hàm số của tỷ suất sinh lợi mong đợi và phương sai của tỷ suất sinh lợi. Một DMĐT được đánh giá là hiệu quả nếu như không có DMĐT nào khác có cùng mức rủi ro mà có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn, hoặc có cùng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng nhưng lại có rủi ro thấp hơn. Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của DMĐT là trung bình có trọng số của các tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của từng tài sản hay chứng khoán cá biệt trong DMĐT.W,E,(Œ) i Trong đó: - W; la tỷ trọng của cổ phiếu j trong DMĐT - E¡(R) là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cô phiếu j - m là tông số cổ phiếu trong DMĐT Rủi ro của DMĐT được đo lường bằng phương sai của DMĐT.
Phương sai của DMĐT phụ thuộc vào mức độ tương quan giữa các cô phiếu trong DMĐT. Phương sai của DMĐT được xác định bởi công thức: a, =37*i 3X-iWjWpØ;¿ Trong đó: -m: là tong số cỗ phiếu có trong DMĐT -W ;: la ty trong của cổ phiếu j trong danh mục -W ¡: là tỷ trọng của cổ phiếu k trong danh mục - Ø¡ k: là đồng phương sai giữa tỷ suất sinh lợi của cô phiếu j và k Đồng phương sai tỷ suất sinh lợi của hai cô phiếu là chỉ tiêu đo lường mức độ quan hệ tuyến tính giữa hai cô phiếu. Đồng phương sai được xác định bằng công thức: Og Fj Fj Trong đó: r ¡x: là hệ số tương quan kỳ vọng giữa tỷ suất sinh loi của cổ phiếu j và cỗ phiếu k ơ;. là độ lệch chuẩn của cổ phiếu J ơi.
là độ lệch chuẩn của cô phiếu k 2. Mô hình định giá tài sản vốn - CAPM M6 hinh CAPM-Capital asset pricing model được xây dựng và phát triển bởi John Lintnet, William Sharpe và Jack Treynor trong thập niên 1960. Đây là mô hình đơn giản về mặt khái niệm, đễ ứng dụng trong thực tiễn nên có nhiều nghiên cứu ứng dụng cho đến nay. Mô hình mô tả về mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng.
Trong đó, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó. Ở đây, rủi ro không toàn hệ thống không được xem xét do nhà đầu tư có thể xây dựng DMĐT đa dạng hoá để loại bỏ loại rủi ro này. &(R) Đường thị ss ching khoan SML M ae E(Rm) oe Phần bù đắp rủi ro Rf } Lợi nhuận không rủi ro 0,0 4,0 aM Hình 1. 1: Đồ thị biểu diễn đường thị trường chứng khoán (Nguồn, trích từ Bùi Minh Khang, 2016) Mô hình CAPM có công thức như sau: E(Ri) = R: +Bi[E(R„) - R¿| Trong đó: EŒ)): Là tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán ¡ R;: Là Lãi suất chứng khoán phi rủi ro (Trái phiếu chính phủ, kho bạc nhà nước.
Hệ số đo lường rủi ro hệ thống của chứng khoán hay I DMĐT hay nói 1 cách đơn giản Beta là hệ số đo lường sự biến động giá chứng khoán trước những biến động của thị trường. la phan bi thi trường Hệ số Beta càng cao thì tỷ suất sinh lời của chứng khoán càng cao, điều này cũng đồng nghĩa mức độ rủi ro cũng sẽ cao hơn. Khi Beta=0 thì lợi nhuận chứng khoán bằng lợi nhuận phi rủi ro (Rf). Khi Beta=l, tỷ suất sinh lời của chứng khoán bằng đúng tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của thị trường.
Nhìn chung, mỗi quan hệ giữa hệ số đo lường rủi ro hệ thống của chứng khoán và tỷ suất sinh lời là mỗi quan hệ tuyến tính, cụ thể là đường thị trường SML (security market line) có hệ số góc E (R m)-R ¿. Các giả định của mô hình CAPM như sau: -_ Các nhà đầu tư luôn nhắm đến mục tiêu tối đa hóa hữu dụng kinh tế với số lượng tài sản được cho trước và cổ định. -_ Số lượng các nhà đầu tư đủ lớn. - Cac nha dau tư luôn e ngại rủi ro.
- Nha đầu tư có thê cho vay và vay không giới hạn với lãi suất phi rủi ro.