Tổng quan nghiên cứu

Tính đến cuối năm 2020, tổng công suất lắp đặt nguồn điện toàn quốc đạt 69.340 MW, trong đó nguồn năng lượng tái tạo ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc với 16.510 MW điện mặt trời và 538 MW điện gió. Tại khu vực miền Trung và miền Nam, nguồn năng lượng tái tạo tập trung với quy mô lên tới 16.269 MW, chiếm tới 37% tổng công suất nguồn đặt và tương đương 78% công suất cực đại Pmax của toàn khu vực (20.727 MW).

Sự phát triển nhanh chóng của các nguồn điện năng lượng tái tạo đòi hỏi việc sử dụng các bộ biến đổi điện tử công suất lớn như inverter và bộ chỉnh lưu bán dẫn. Quá trình chuyển đổi năng lượng qua các phần tử phi tuyến này là nguyên nhân trực tiếp phát sinh các thành phần sóng hài bậc cao phát ngược lên lưới điện. Điều này làm suy giảm chất lượng điện năng nghiêm trọng, gây méo dạng sóng điện áp và dòng điện, gia tăng tổn thất trên lưới truyền tải và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống điện.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá định lượng độ méo dạng sóng hài điện áp và dòng điện trên các cấp điện áp 110kV, 220kV và 500kV thuộc hệ thống điện miền Nam do các nhà máy điện gió và điện mặt trời phát lên; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật tối ưu nhằm kiểm soát và giảm thiểu sóng hài theo quy chuẩn.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống điện miền Nam do Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) quản lý, gồm 21 tỉnh, thành phố với dữ liệu vận hành và quy hoạch giai đoạn 2022–2026, tầm nhìn đến năm 2028. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc xây dựng cơ sở dữ liệu mô phỏng hoàn chỉnh, cung cấp các giải pháp lọc sóng hài khả thi nhằm duy trì tổng độ méo sóng hài điện áp dưới ngưỡng quy định 3,0%, góp phần giảm tỷ lệ tổn thất điện năng và bảo vệ an toàn cho 6.489 km đường dây 220kV cùng 7.380 km đường dây 110kV trong toàn khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết phân tích chuỗi Fourier trong miền tần số để phân rã các dạng sóng tuần hoàn không sin của điện áp và dòng điện thành tổng của thành phần tần số cơ bản 50 Hz và các thành phần sóng hài bậc cao có tần số là bội số nguyên của tần số cơ bản. Kết hợp với đó là lý thuyết chuyển mạch phi tuyến của các van bán dẫn công suất (IGBT, Thyristor) trong các bộ biến đổi công suất AC/DC và DC/AC tại các tuabin gió 3,3 MW và inverter điện mặt trời 2,55 MW.

Mô hình nghiên cứu xây dựng nguồn sóng hài dưới dạng các nguồn bơm dòng điều hòa tại các nút đấu nối chung (PCC). Các thông số đặc trưng cốt lõi được sử dụng để đánh giá bao gồm:

  • Tổng méo dạng sóng hài điện áp (THDu): Tỷ số giữa giá trị hiệu dụng của các thành phần điện áp sóng hài bậc cao từ bậc 2 đến bậc 50 so với điện áp sóng cơ bản.
  • Độ méo dòng điện tổng cộng (THDi hoặc TDD): Tỷ số giữa dòng điện sóng hài hiệu dụng so với dòng điện tải tham chiếu danh định cực đại.
  • Độ méo riêng lẻ (HDu, HDi): Mức độ méo dạng của từng bậc sóng hài đơn lẻ.
  • Tỷ số dòng điện ngắn mạch trên dòng phụ tải (Isc/IL) tại điểm đấu nối chung.

Khung pháp lý và kỹ thuật đánh giá dựa trên tiêu chuẩn quốc tế IEEE 519-2014, kết hợp với các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam gồm Thông tư số 25/2016/TT-BCT, Thông tư số 39/2015/TT-BCT và Thông tư số 39/2022/TT-BCT của Bộ Công Thương. Các quy chuẩn này giới hạn mức tổng méo dạng sóng hài điện áp THDu cho cấp điện áp 110kV, 220kV và 500kV không được vượt quá 3,0%, và độ méo riêng lẻ HDu không quá 1,5%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô phỏng số kết hợp phân tích định lượng dựa trên bộ dữ liệu thực tế của hệ thống điện miền Nam do Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0), Trung tâm Điều độ Hệ thống điện miền Nam (A2), EVNNPT, EVNSPC và Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 5 (PECC5) cung cấp.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ mạng lưới truyền tải và phân phối điện của 21 tỉnh thành phía Nam, bao gồm 65 trạm biến áp 500kV với tổng dung lượng 42.900 MVA, 131 trạm biến áp 220kV với dung lượng 29.502 MVA, và 715 trạm biến áp 110kV với dung lượng 39.736 MVA. Phương pháp chọn mẫu toàn diện theo cấu trúc lưới điện thực tế được áp dụng nhằm khảo sát toàn bộ 128 dự án năng lượng tái tạo tập trung có tổng công suất 6.650,6 MW cùng 54.259 hệ thống điện mặt trời mái nhà với công suất 5.388 MWp.

Lý do lựa chọn phần mềm chuyên dụng DIgSILENT PowerFactory làm công cụ phân tích chính là khả năng chuyển đổi trực tiếp dữ liệu từ PSS/E, thực hiện tính toán trào lưu công suất sóng hài (Harmonic Load Flow) và quét đáp ứng tần số (Frequency Sweep) đa điểm với độ chính xác cao từ bậc 1 đến bậc 50. Timeline nghiên cứu được thực hiện đồng bộ từ khâu thu thập, chuyển đổi dữ liệu mạng điện đến mô phỏng và kiểm chứng các giải pháp lọc trong giai đoạn từ tháng 2/2023 đến tháng 6/2023.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô phỏng trên phần mềm DIgSILENT PowerFactory đã chỉ ra các phát hiện quan trọng về mức độ phát thải sóng hài trên hệ thống điện miền Nam:

Thứ nhất, tại cấp điện áp 110kV, tình trạng quá giới hạn sóng hài điện áp diễn ra cục bộ tại các tỉnh có mật độ nguồn điện mặt trời và điện gió cao như Bình Thuận, Ninh Thuận, Tây Ninh và Long An. Giá trị tổng méo dạng sóng hài điện áp THDu tại một số thanh cái 110kV ghi nhận mức từ 4,2% đến 6,8%, vượt từ 1,4 đến 2,26 lần so với giới hạn 3,0% quy định tại Thông tư 39/2022/TT-BCT.

Thứ hai, trên lưới điện 220kV, các thanh cái nút đấu nối gần cụm nhà máy điện mặt trời lớn như Nhà máy Điện mặt trời Hồng Phong 1A, 1B và Nhà máy Điện mặt trời Thái Hòa xuất hiện dòng điện sóng hài bậc cao vượt ngưỡng rõ rệt. Dòng sóng hài bậc 6 đạt 2,8%, bậc 13 đạt 3,6% và bậc 17 đạt 2,4% so với dòng điện cơ bản, khiến tổng méo dạng dòng điện THDi qua máy biến áp nâng áp chạm mức 5,6% (vượt ngưỡng cho phép 3,0%).

Thứ ba, tại cấp siêu cao áp 500kV, giá trị THDu tại hầu hết các thanh cái vẫn duy trì trong ngưỡng an toàn từ 1,8% đến 2,4%. Tuy nhiên, kết quả quét tần số cho thấy hiện tượng cộng hưởng song song giữa dung kháng của 2.705 km đường dây 500kV và cảm kháng rò của các máy biến áp truyền tải xuất hiện ở dải tần từ 650 Hz đến 850 Hz (tương ứng bậc 13 đến bậc 17), có nguy cơ khuếch đại điện áp sóng hài nếu không có biện pháp triệt tiêu tại nguồn.

Thứ tư, mức độ méo dạng sóng hài dòng điện trên 58 tuyến đường dây 110kV vận hành dạng nhánh độc đạo cao hơn trung bình 35% so với các tuyến đường dây vận hành theo cấu trúc mạch vòng kín, do các nhánh độc đạo không có khả năng tự bù trừ và phân tán dòng hài sang các nút lân cận.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng sóng hài là do tần số đóng cắt của các bộ biến đổi bán dẫn công suất PWM tại các nhà máy năng lượng tái tạo, kết hợp với hiện tượng bão hòa từ cục bộ của các máy biến áp tăng áp khi vận hành ở mức công suất phát đỉnh vào khung giờ bức xạ mặt trời cao nhất trong ngày.

Khi so sánh với các khảo sát trước đây vào năm 2013 của Hội Điện lực Việt Nam (thời điểm phụ tải công nghiệp nặng như thép và xi măng là nguồn gây hài chính với THDi từ 12,3% đến 34,4%, tập trung ở bậc 3, 5, 7), kết quả nghiên cứu hiện tại cho thấy quang phổ sóng hài trên lưới điện miền Nam đã dịch chuyển rõ rệt. Sóng hài do năng lượng tái tạo chủ yếu xuất hiện ở các bậc lẻ cao hơn như bậc 11, 13, 17 và cả thành phần bậc chẵn như bậc 6.

Các kết quả phân tích được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị phổ tần số và bảng phân bố không gian chỉ số THD, minh chứng rằng khi công suất phát của các nhà máy điện mặt trời đạt 100% công suất định mức, độ méo dạng điện áp tại điểm đấu nối chung PCC tăng tuyến tính theo hàm bậc nhất với hệ số tương quan R2 đạt trên 0,91.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm kiểm soát sóng hài:

  1. Lắp đặt bộ lọc sóng hài thụ động (Passive Filter) dạng Single-Tuned tại thanh cái trung áp 22kV của các nhà máy năng lượng tái tạo:

    • Hành động: Thiết kế và lắp đặt đồng thời các nhánh lọc điều chỉnh đơn cho sóng hài bậc 6, bậc 13 và bậc 17 tại thanh cái 22kV trạm nâng áp của các nhà máy điện mặt trời khu vực Bình Thuận và Ninh Thuận.
    • Chỉ số mục tiêu: Giảm tổng méo dạng sóng hài điện áp THDu từ 5,6% xuống dưới 1,4%, đưa THDi dòng điện qua máy biến áp về dưới 1,8% (đáp ứng hoàn toàn tiêu chuẩn IEEE 519-2014 và TCVN).
    • Lộ trình thực hiện: Triển khai trong giai đoạn quý 4/2024 đến hết năm 2025.
    • Chủ thể thực hiện: Các chủ đầu tư nhà máy điện mặt trời, điện gió phối hợp cùng EVNSPC.
  2. Ứng dụng bộ lọc tích cực lai (Hybrid Active Power Filter - HAPF) tại các trạm biến áp 220kV liên kết:

    • Hành động: Trang bị hệ thống lọc tích cực lai kết hợp giữa bộ lọc thụ động công suất lớn và bộ lọc tích cực điều khiển linh hoạt tại các trạm 220kV tiếp nhận công suất năng lượng tái tạo lớn (như trạm cắt Thái Hòa).
    • Chỉ số mục tiêu: Triệt tiêu linh hoạt các thành phần sóng hài dao động từ bậc 2 đến bậc 25, duy trì THDu luôn dưới 1,2% trong mọi chế độ vận hành thay đổi công suất.
    • Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2025–2026.
    • Chủ thể thực hiện: Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) và Công ty Truyền tải điện 3, 4.
  3. Tích hợp tính năng lọc sóng hài vào các thiết bị bù công suất phản kháng STATCOM/SVG:

    • Hành động: Nâng cấp thuật toán điều khiển của các bộ bù tĩnh STATCOM hiện hữu dung lượng 30–50 MVAR tại các nút trạm trọng điểm để thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: ổn định điện áp và lọc sóng hài bậc cao.
    • Chỉ số mục tiêu: Nâng cao hệ số công suất cos phi lên trên 0,98, giảm tổn thất công suất truyền tải trên lưới 110–220kV khoảng 8,5%.
    • Lộ trình thực hiện: Hoàn thành trước năm 2026.
    • Chủ thể thực hiện: Công ty Truyền tải điện 3 và 4.
  4. Xây dựng hệ thống giám sát chất lượng điện năng thời gian thực (Power Quality Monitoring):

    • Hành động: Lắp đặt thiết bị đo đếm chất lượng điện năng chuyên dụng đạt chuẩn IEC 61000-4-30 Class A tại 100% điểm đấu nối chung (PCC) của các nguồn năng lượng tái tạo.
    • Chỉ số mục tiêu: Tự động phát hiện và cảnh báo các nguy cơ cộng hưởng sóng hài với thời gian trễ dưới 200 ms.
    • Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2024–2027.
    • Chủ thể thực hiện: Cục Điều tiết Điện lực chủ trì, phối hợp với Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0/A2).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho các nhóm đối tượng:

  • Kỹ sư quy hoạch và thiết kế hệ thống điện: Cung cấp phương pháp luận và dữ liệu chuẩn để mô hình hóa nguồn sóng hài trên phần mềm DIgSILENT PowerFactory, ứng dụng trực tiếp vào việc tính toán thiết kế điểm đấu nối cho các dự án nguồn điện mới.
  • Đơn vị quản lý vận hành lưới truyền tải và phân phối (EVNNPT, EVNSPC): Sử dụng các bảng số liệu phân tích để nhận diện nguy cơ quá nhiệt máy biến áp, sự cố nổ tụ bù do cộng hưởng sóng hài, từ đó tối ưu hóa phương thức vận hành lưới điện 110kV–220kV.
  • Chủ đầu tư và nhà thầu EPC các dự án năng lượng tái tạo: Nắm bắt giải pháp lựa chọn cấu hình bộ lọc thụ động, tích cực và bộ bù STATCOM nhằm đáp ứng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật hòa lưới tại Thông tư 39/2022/TT-BCT với chi phí đầu tư tối ưu.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Kỹ thuật điện: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về đánh giá chất lượng điện năng trên hệ thống điện thực tế quy mô lớn với đầy đủ mô hình toán học và kết quả mô phỏng chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao các nhà máy điện mặt trời và điện gió lại gây ra sóng hài bậc cao trên lưới điện?
Năng lượng sơ cấp từ gió và mặt trời được chuyển đổi thành điện năng qua các bộ biến đổi bán dẫn công suất (inverter và bộ chỉnh lưu). Quá trình đóng cắt van bán dẫn IGBT ở tần số cao tạo ra các xung điện áp không sin, phát sinh sóng hài dòng điện bậc cao như bậc 6, 11, 13 và 17 truyền lên lưới điện tại điểm đấu nối chung.

Chỉ số THDu và THDi khác nhau như thế nào trong đánh giá chất lượng điện năng?
THDu biểu thị mức độ biến dạng tổng thể của sóng điện áp so với sóng cơ bản 50 Hz, có giới hạn tối đa 3,0% trên lưới cao áp theo quy định. Trong khi đó, THDi phản ánh độ méo dạng dòng điện sóng hài so với dòng tải danh định cực đại, giúp đánh giá chính xác tác động gia nhiệt và tổn thất trên máy biến áp và đường dây truyền tải.

Tiêu chuẩn nào hiện đang được áp dụng để kiểm soát sóng hài tại hệ thống điện Việt Nam?
Hệ thống điện Việt Nam tuân thủ các quy định tại Thông tư 25/2016/TT-BCT, Thông tư 39/2015/TT-BCT và Thông tư sửa đổi 39/2022/TT-BCT của Bộ Công Thương, kết hợp tham chiếu tiêu chuẩn quốc tế IEEE 519-2014. Theo đó, tổng méo dạng sóng hài điện áp THDu trên lưới truyền tải 110kV đến 500kV không được vượt quá 3,0%.

Giải pháp lọc sóng hài nào mang lại hiệu quả kinh tế và kỹ thuật cao nhất cho trạm biến áp?
Bộ lọc tích cực lai (HAPF) mang lại hiệu quả vượt trội nhờ kết hợp chi phí hợp lý của bộ lọc thụ động (xử lý các bậc hài công suất lớn 6, 13) với độ chính xác của bộ lọc tích cực (khử các bậc hài dao động). Giải pháp này giúp giảm THDu từ 5,6% xuống 1,2% với chi phí đầu tư thấp hơn khoảng 40% so với bộ lọc tích cực toàn phần.

Sóng hài gây ra những tác hại cụ thể nào đối với các thiết bị trên lưới điện?
Sóng hài làm gia tăng tổn thất dòng xoáy Foucault, gây quá nhiệt và làm giảm từ 30% đến 50% tuổi thọ cách điện của máy biến áp. Đồng thời, dòng sóng hài gây già hóa nhanh các chuỗi sứ cách điện, làm sai lệch kết quả đo đếm của công tơ điện tử và tiềm ẩn nguy cơ gây tác động nhầm cho các rơ le bảo vệ kỹ thuật số.

Kết luận

  • Luận văn đã mô hình hóa và đánh giá toàn diện hiện trạng sóng hài trên hệ thống điện miền Nam với tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo đạt 78% công suất cực đại Pmax.
  • Phát hiện các điểm nóng ô nhiễm sóng hài điện áp với chỉ số THDu vượt ngưỡng 3,0% tại các khu vực tập trung nhiều nhà máy điện mặt trời quy mô lớn ở Bình Thuận, Ninh Thuận và Tây Ninh.
  • Xác định quang phổ sóng hài đặc trưng chủ yếu tập trung tại các bậc 6, 13 và 17 phát sinh từ quá trình điều chế nghịch lưu của biến tần công suất.
  • Chứng minh tính hiệu quả của các giải pháp lọc thụ động, lọc tích cực lai và tích hợp STATCOM giúp đưa các chỉ số THDu và THDi về dưới mức 1,4%, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
  • Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu số hóa hoàn chỉnh trên phần mềm DIgSILENT PowerFactory cho lưới điện 110kV, 220kV và 500kV của 21 tỉnh thành phía Nam.

Công trình tạo tiền đề kỹ thuật quan trọng cho việc triển khai lắp đặt hệ thống lọc sóng hài tại các trạm biến áp 220kV trọng điểm trong giai đoạn 2024–2026. Các đơn vị vận hành và chủ đầu tư nguồn năng lượng tái tạo cần chủ động áp dụng các giải pháp kỹ thuật được đề xuất để đảm bảo lưới điện vận hành an toàn, tin cậy và đạt chất lượng điện năng tối ưu.