Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Rahman, S. (2003) nghiên cứu hiệu quả lợi nhuận của nông dân trồng lúa tại Bangladesh.
Sự kém hiệu quả trong sản xuất thường được phân tích bởi ba thành phần: hiệu quả kỹ thuật, phân bổ và quy mô. Trong nghiên cứu này, đo lường hiệu quả sản xuất của nông dân trồng lúa Bangladesh bằng cách sử dụng mô hình biên lợi nhuận ngẫu nhiên và mô hình tác động phi hiệu quả. Sử dụng dữ liệu khảo sát chi tiết thu được từ 380 trang trại trồng lúa hiện đại trải rộng trên 21 ngôi làng vào năm 1997. Kết quả cho thấy có mức độ kém hiệu quả cao trong canh tác lúa hiện đại.
Mức hiệu quả lợi nhuận trung bình là 77% cho thấy ước tính khoảng 23% lợi nhuận bị mất do sự kém hiệu quả về kỹ thuật, phân bổ và quy mô trong sản xuất lúa gạo hiện đại. Sự khác biệt về hiệu quả được giải thích phần lớn bởi cơ sở hạ tầng, độ phì của đất, kinh nghiệm, dịch vụ khuyến nông, đất thuê và thu nhập phi nông nghiệp. (2021) nghiên cứu những thách thức đối với việc mở rộng quy mô công nghệ tưới ướt xen kẽ (AWD) trong canh tác lúa: Đúc kết bài học từ 20 năm kinh nghiệm ở Philippines. Các phát hiện cho thay nền tảng đổi mới, trong đó các chủ thê chính được tích hợp theo chiều dọc và AWD được điều chỉnh theo địa phương đã giúp thúc day những bước đột phá thiết yếu trong việc tạo ra một môi trường thuận lợi dé đưa AWD vào chính sách quốc gia ở Philippines.
Tuy nhiên, sự tập trung chủ yếu vào chuyền giao công nghệ, tập trung vào sản phẩm và ưu tiên môi trường được kiểm soát trong thực tiễn mở rộng quy mô đã bỏ qua nhiều yếu tổ bối cảnh quan trọng, tạo ra sự không phù hợp trong việc tạo điều kiện cho các khuyến khích chính sách, thé chế và quy mô làm giảm tác động của AWD trong các hệ thông dựa trên trọng lực. Nghiên cứu cho thấy rằng việc xem xét lại và hình dung lại các cách thức có thé mở rộng quy mô tác động trong các hệ thống tưới lúa sử dụng AWD là rất quan trong để duy trì an ninh lương thực và giúp ngành nông nghiệp trở nên kiên cường hơn trước biến đồi khí hậu. Các công trình nghiên cứu trong nước Phạm Phước Nhẫn và ctv (2012) đã nghiên cứu kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ, phương thức gieo trồng, giảm phân lân lên sinh trưởng và năng suất lúa vụ đông xuân 2011 — 2012. Trong điều kiện biến đổi khí hậu theo hướng bất lợi cho sản xuất gạo, việc duy trì năng suất và giảm chỉ phí đầu tư sẽ giúp mang lại lợi ích cho nông dân.
Trong nghiên cứu này, kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ kết hợp giảm liều lượng phân lân và phương pháp gieo sạ đã được khảo sát nhằm đánh giá các ảnh hưởng của chúng lên sinh trưởng, năng suất và lợi nhuận trên giống lúa vụ đông xuân 2011 — 2012. Kết quả cho thấy tưới ngập khô xen kẽ hợp lý tiết kiệm được khoảng 50% lượng nước tưới kết hợp các yêu tô thí nghiệm hợp lý sẽ làm gia tăng lợi nhuận tương đương với khoảng 1 tan/ha so với kỹ thuật canh tác theo tập quán của nông dân. Trần Thị Diệu (2014) nghiên cứu cho thấy nước sử dụng trong sản xuất lúa có thể giảm được 25% khi sử dụng kỹ thuật tưới tiêu đơn giản gọi là tưới khô ướt xen kẽ hay viết tắt là AWD. Kỹ thuật AWD có thể tiết kiệm 500 lít nước cho 1 kg lúa.
Phương pháp canh tác lúa truyền thống là ngập thường xuyên, kỹ thuật AWD sử dụng chu trình rút nước và cho nước xen kẽ nhau, giữ mực nước ở mức độ tốt nhất cho sự sinh trưởng của cây ở bất cứ thời điểm nào. Từ kết quả của việc tưới khô ướt xen kẽ giúp cho điều kiện đồng ruộng được nâng cao, điều này sẽ giúp giảm chỉ phí lao động trong thu hoạch vì có thể sử đụng máy gặt. Những nghiên cứu chuyên sâu bởi các nhà khoa học từ IRRI và các cơ quan đối tác đã khẳng định kỹ thuật AWD là một trong những phương pháp làm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực nông nghiệp. Nguyễn Tiến Dũng và Lê Khương Ninh (2014) bài viết phân tích ảnh hưởng của các yêu tố đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ thông qua hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 815 nông hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên ở Thành phố Cần Thơ.
Bài viết sử dụng phương pháp ước lượn Tobit với biến phụ thuộc HIEUQUA trong mô hình là hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của nông hộ. Kêt quả nghiên cứu cho thay hiệu quả kinh tê trong sản xuât lúa của các nông hộ tương đối thấp và chịu ảnh hưởng của các yêu tổ nội tại như quy mô điện tích, phương thức mua vật tư, phương thức bán lúa, số lượng lao động gia đình, tập quán canh tác và lượng tiền nhàn rỗi, bên cạnh các yếu tố ngoại biên như thực trạng hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, khoảng cách từ nơi sinh sống của nông hộ các điểm chợ,. Trên cơ sở kết quả ước lượng, bài viết đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa nhằm cai thiện thu nhập cho nông hộ trồng lúa ở Thành phố Cần Thơ. Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014) nghiên cứu này được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả tài chính giữa mô hình ứng dụng tiễn bộ kỹ thuật (UDTBKT) và mô hình không ƯDTBKT trong sản xuất lúa của nông hộ ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập từ 750 nông hộ sản xuất lúa thuộc các tỉnh khu vực ĐBSCL. Ứng dụng phương pháp các tỷ số tài chính và kiểm định trung bình giữa hai tổng thé độc lập, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mô hình sản xuất lúa có UDTBKT đạt hiệu quả tài chính cao hơn so với mô hình không ƯDTBKT. Các chỉ tiêu như: tổng chi phí, năng suất, doanh thu và lợi nhuận của mô hình sản xuất có ƯDTBKT đều cao hơn mô hình không ƯDTBKT. Đây là cơ sở quan trọng dé các địa phương day mạnh công tác UDTBKT trong sản xuất lúa, góp phần tăng năng suất, tăng lợi nhuận, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nông hộ sản xuất lúa ở ĐBSCL.
Bên cạnh kết quả phân tích, nghiên cứu còn đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên quan trong sản xuất lúa của vùng nhằm nâng cao hiệu quả ƯDTBKT trong họat động canh tác của nông hộ. Các kiến nghị hướng đến các đối tượng bao gồm: nông hộ, chính quyền địa phương và các cơ quan ban ngành, các tô chức viện, trường Nguyễn Thị Huệ và cộng sự (2015) đã nghiên cứu đánh giá sự phù hợp của kỹ thuật AWD trong canh tác lúa ở các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam dựa trên tính cân bằng nước từ các thông số lượng mưa, lượng bốc hơi và thấm sâu. Kết quả tính toán cho thấy có 88.34% (2,760,001 ha) diện tích đất lúa vụ đông xuân.15% (3,422,281 ha) diện tích đất lúa vụ hè thu va 78.32% (652,132 ha) diện tích đất lúa vụ Thu Đông phù hợp cao với kỹ thuật AWD. Kết quả nghiên cứu cũng đã đưa ra được bản đồ kỹ thuật AWD thích hợp cho cả 3 vụ lúa ở Việt Nam.
Từ kết quả nghiên cứu nảy có thể chỉ ra vị trí và diện tích trồng lúa nào ở Việt Nam có thể áp dụng kỹ thuật AWD và kết quả nay cũng có thể được áp dụng dé tính toán nhu cầu nước cho từng giống lúa nhằm đảm bảo năng suất lúa cao, tiết kiệm nước tưới. Hồng Minh Hoang và cộng sự (2018) nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận kỹ thuật tưới tiết kiệm nước trên cây trồng cạn của nông dan ở tỉnh Trà Vinh. Nghiên cứu dựa vào khung sinh kế của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) kết hợp với công cụ hồi quy nhị phân logistic để phân tích mối quan hệ định tính giữa biến phụ thuộc và biến độc lập của 05 nguồn vốn sinh kế với nguồn số liệu được thu thập qua phỏng vấn 225 nông dân tại 3 huyện Cầu Ngang, Trà Cú và Duyên Hải. Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước của nông dan tại khu vực nghiên cứu là nông dân còn hạn chế tiếp cận thông tin liên quan đến hiệu quả của kỹ thuật tưới tiết kiệm nước trong canh tác ở địa phương.
Kết quả nghiên cứu là một thông tin hữu ich dé hỗ trợ cho Chính quyền địa phương trong việc phát triển mô hình tưới tiết kiệm nước hoạt động sản xuất cây trồng cạn. Nguyễn Phượng Lê và cộng sự (2020) nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm ở vùng Tây Nguyên: Nghiên cứu điển hình ở huyện Cu M” gar, tinh Dak Lắk. Mục tiêu của nghiên cứu này là khái quát các loại công nghệ tưới cà phê đang được sử dụng; đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê có sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm và chỉ ra các yêu tô cản trở việc ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm cho cà phê trên địa bàn huyện Cư M’ gar. Số liệu thu thập từ 33 hộ sản xuất cà phê dang ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm (điều tra tổng thé) và 30 hộ sản xuất cà phê sử dụng công nghệ tưới truyền thống (chọn mẫu ngẫu nhiên) tại địa bàn nghiên cứu cho thấy các công nghệ tưới tiết kiệm đã mang lại tính ưu việt về hiệu quả kinh tế so với công nghệ tưới truyền thống.
Mặc dù vậy tỷ lệ hộ ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm ở huyện còn rất thấp mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn dau tư, nhận thức của người sản xuất hạn chế và công tác chuyển giao chưa hiệu quả. Nguyễn Công Thuận và cộng sự (2022) nghiên cứu kỹ thuật canh tác lúa tiết kiệm nước, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng biến đổi khí hậu. Kết quả cho thấy lợi ích khi áp dụng kỹ thuật ngập khô xem kẽ (AWD) là làm giảm lượng khí thải CH4 và cho năng suất cao hơn so với canh tác truyền thống. Rao cản lớn cho áp dụng AWD là hệ thống tưới tiêu và phương pháp quan trắc mực nước, dẫn đến chưa thé ban hành các chính sách, thé chế về AWD cho toàn cùng Đồng bằng sông Cửu Long.