MỞ ĐẦU Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đồng bằng sông Cửu Long trong đó có thành phố Cần Thơ được bao phủ bởi lớp trầm tích Đệ Tứ hiện đại (QIV - Holocene) dưới dạng bùn sét, sét pha bão hòa nước. Bề dày lớp đất này dao động trong phạm vi rộng từ 12m đến 30m, đặc biệt ở ven sông Hậu, sông Cần Thơ có nơi trên 50m. Đặc điểm của lớp sét yếu bão hòa nước là hệ số rỗng rất lớn và vì thế biến dạng lún của đất rất lớn. Dưới lớp sét yếu này là lớp sét và sét pha cát cứng hơn ở trạng thái từ dẻo mềm, dẻo cứng đến nửa cứng, đôi khi có vài lớp cát nhưng độ chặt không lớn hoặc chiều dày nhỏ, hiếm khi xuất hiện sỏi sạn.
Các loại móng sâu thường đặt lên trên lớp đất này. Có thể nói thành phố Cần Thơ nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung có điều kiện địa chất không thuận lợi cho việc xây dựng do sức chịu tải của các lớp gần bề mặt không lớn và biến dạng nhiều. Để các công trình xây dựng trên vùng đất này được an toàn có hiệu quả về kinh tế thì việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá các đặc trưng biến dạng của đất nền là điều cần thiết phải thực hiện. Việc đánh giá giá trị đặc trưng biến dạng đại diện cho từng loại đất và từng độ sâu, đồng thời so sánh với lý thuyết cố kết thấm đã có để tìm ra các đặc điểm riêng về biến dạng của đất nền ở thành phố Cần Thơ sẽ giúp cho việc tính toán lún của các công trình được chính xác và hiệu quả hơn.
Hơn nữa, đối với sét yếu bão hòa nước, độ lún của công trình trên chúng thường đóng vai trò chủ yếu trong tính toán thiết kế, đặc biệt đối với các công trình cơ sở hạ tầng vì vậy, việc đánh giá đặc trưng biến dạng của đất càng cần thiết hơn. Từ những suy nghĩ trên, học viên chọn thực hiện đề tài “ Tổng hợp, đánh giá các đặc trưng biến dạng của đất sét, sét pha khu vực Cần Thơ và so sánh với các đặc trưng biến dạng của đất sét theo lý thuyết cố kết thấm”. Kết quả nghiên cứu tổng hợp có thể là tài liệu tham khảo cho các kỹ sư thiết kế và kỹ sư Địa kỹ thuật. Điều này mang nhiều ý nghĩa thực tiễn cho thành phố Cần Thơ là nơi có nhiều công trình cơ sở hạ tầng cần được triển khai trong thời gian tới.
-2- Mục tiêu đề tài - Tổng hợp đặc trưng biến dạng của đất loại sét ở khu vực Cần Thơ và qui luật thay đổi của chúng theo điều kiện phân bố. - Phân tích, đánh giá các đặc trưng biến dạng của đất ở khu vực từ đó tổng kết và so sánh với đặc trưng biến dạng của đất theo lý thuyết cố kết thấm để tìm ra những điểm chung và riêng về biến dạng của đất loại sét ở Cần Thơ. Mục đích đề tài Giúp tìm hiểu sâu hơn các đặc trưng biến dạng của đất loại sét ở Cần Thơ từ đó ứng dụng trong việc tính toán độ lún tức thời, lâu dài, thời gian lún và việc xử lý nền chính xác hơn để đạt hiệu quả về kinh tế. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng hợp một số tài liệu nghiên cứu về đặc trưng biến dạng của đất loại sét.
- Tính toán và thống kê các số liệu thí nghiệm nén cố kết của đất từ các công trình khảo sát địa chất ở thành phố Cần Thơ và vùng lân cận (do học viên thực hiện từ các năm trước và của các phòng thí nghiệm khác). - Khảo sát một số vị trí mới ở thành phố Cần Thơ và tiến hành lấy mẫu thí nghiệm cơ lý và đặc biệt là thí nghiệm nén cố kết trên mẫu nguyên dạng. - Tổng hợp, thống kê các đặc trưng biến dạng của đất loại sét trong khu vực. Từ các số liệu tổng hợp được vẽ các biểu đồ e ~ p ; e ~ logp; chỉ số OCR ~ độ sâu; Cc Cc ~ độ sâu; ; giá trị Eo12 ;mv12; Cv ;Cc ; Cs ; pc ; Cc ; Cα ….
theo từng loại 1 e0 đất và theo độ sâu; tỷ số Cα/Cc ; Cs/Cc của từng loại sét ở Cần Thơ. Đánh giá đường cong biến dạng của đất trên lý thuyết và với số liệu thí nghiệm thực tế. - Đánh giá sự khác biệt của số liệu thí nghiệm thu thập được với lý thuyết về nén lún, đưa ra nhận xét về đặc trưng biến dạng của đất loại sét ở Cần Thơ. Phƣơng pháp nghiên cứu - Nghiên cứu lý thuyết: -3- + Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về các đặc trưng biến dạng của đất loại sét.
+ Nghiên cứu cơ sở lý thuyết cố kết của đất nền. - Nghiên cứu thí nghiệm trong phòng: + Thí nghiệm xác định các chỉ tiêu vật lý của đất. + Thí nghiệm nén cố kết để xác định đặc trưng biến dạng của đất. Phạm vi nghiên cứu - Địa điểm thu thập tài liệu và khảo sát là các công trình nằm trên địa bàn Thành Phố Cần Thơ và lân cận.
- Thí nghiệm và tính toán các đặc trưng biến dạng của đất loại sét. -4- CHƢƠNG 1 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC TRƢNG BIẾN DẠNG CỦA ĐẤT LOẠI SÉT 1. Đất loại sét và khái niệm về biến dạng của đất loại sét Đất là vật liệu phong hóa nằm trên cùng của vỏ trái đất gồm hai loại cơ bản là đất rời và đất loại sét. Đất loại sét có chứa các hạt khoáng sét, xung quanh có màng nước liên kết vật lý do sức hút tĩnh điện có tính nhớt bao bọc.
Các hạt đất tạo thành một khung kết cấu nhất định, đồng thời giữa các hạt đất có lỗ rỗng chứa đầy nước. Khi tải trọng tác dụng lên đất bão hòa thì ngay khi gia tải, toàn bộ tải trọng đó sẽ do nước trong lỗ rỗng đó tiếp thu và làm tăng áp lực nước lỗ rỗng, hình thành áp lực nước lỗ rỗng thặng dư. Dưới tác dụng của gradien thủy lực tăng lên, nước lỗ rỗng bắt đầu bị ép ra. Khi nước thoát ra, áp lực nước lỗ rỗng thặng dư sẽ giảm đi và tải trọng ngoài sẽ chuyển dần sang khung hạt.
Vì đất sét có tính thấm nhỏ nên quá trình thoát nước lỗ rỗng diễn ra chậm chạp, phần tải trọng tác dụng lên khung hạt cũng tăng lên chậm và biến dạng lún của đất cũng xảy ra từ từ. Ngoài ra, chính yếu tố nhớt của khung kết cấu cũng làm cho nó không thể biến dạng ngay tức thời khi chịu nén mà quá trình nén lún phải trải qua một thời gian nhất định trước khi đi đến ổn định hoàn toàn. Biến dạng của đất là sự thay đổi hình dạng và thể tích dưới tác dụng của tải trọng ngoài hay do sự thay đổi trạng thái ứng suất. Biến dạng của đất gồm hai dạng chính: - Biến dạng thể tích là độ thay đổi thể tích khi chịu tải thường do các ứng suất pháp tuyến gây ra.
Biến dạng thể tích dương diễn tả sự giảm thể tích, biến dạng thể tích âm diễn tả sự tăng thể tích. Trong đất sự thay đổi thể tích chủ yếu do thay đổi thể tích phần rỗng vì biến dạng hạt rất bé nên thường được bỏ qua. Chỉ có ứng suất hữu hiệu mới làm thay đổi kết cấu khung hạt và làm thay đổi thể tích lỗ rỗng (nước trong lỗ rỗng thoát ra). -5- - Biến hình là sự thay đổi hình dạng khung hạt không kèm theo biến dạng thể tích hoặc có nhưng rất bé.
Biến dạng này do ứng suất tiếp tuyến gây ra. Ứng suất tiếp tuyến thực chất là do độ chênh lệch ứng suất pháp gây ra nên không chịu ảnh hưởng của áp lực nước lỗ rỗng [1]. Biến dạng cũng có thể chia ra làm các loại: - Biến dạng tức thời do sự co lại của các bọt khí - Biến dạng do thu hẹp lỗ rỗng từ việc đầm chặt làm thay đổi thể tích đất. - Biến dạng đàn hồi không làm thay đổi thể tích đất.
- Biến dạng từ biến do các hạt sắp xếp lại vị trí hoặc trượt lên nhau hoặc do sự thay đổi độ nhớt hay độ đặc của nước liên kết vật lý. - Biến dạng dẻo khi trong đất xảy ra vùng biến dạng dẻo do mất ổn định. Một số đặc trƣng biến dạng cơ bản của đất loại sét Để thể hiện tính biến dạng của đất, có thể sử dụng một số đặc trưng cơ bản như sau: 1. Hệ số nén lún a (coefficient of compressibility) Hệ số nén lún a biểu hiện sự thay đổi hệ số rỗng khi áp lực p tăng lên một đơn vị.1) dp Hệ số nén lún a được xác định từ kết quả của thí nghiệm nén cố kết trong phòng.
Trong thí nghiệm nén cố kết, ở mỗi cấp tải sau khi lún ổn định hệ số rỗng tương ứng sẽ được xác định, từ đó vẽ được đường cong quan hệ e~p (hình 1. Trên mỗi đoạn của đường cong (ví dụ từ A đến B ứng với p 1 đến p2) nếu p2 không lớn hơn p1 nhiều thì ta xem đường cong ấy như là đoạn thẳng và định nghĩa hệ số nén a là độ dốc của đoạn thẳng đó (tgα). Đường cong nén lún e ~ p trong điều kiện không nở hông Đẳng thức (1.3) chính là biểu thức toán học của định luật nén lún: Trong phạm vi thay đổi không lớn của áp lực, hệ số rỗng của đất giảm đi theo quan hệ tỷ lệ thuận với lượng tăng áp lực nén [2].1, có thể thấy rằng hệ số nén lún a không phải là hằng số mà nó phụ thuộc vào cấp áp lực tính toán. Thông thường hệ số nén lún a giảm dần khi áp lực p tăng.
Tuy nhiên, trong vài trường hợp đối với đất sét yếu bão hòa nước, ở cấp áp lực khá nhỏ thì a sẽ tăng khi p tăng sau đó mới giảm. Hệ số nén lún a dùng để xác định độ lún của nền đất. Giả sử ở cấp áp lực p1 mẫu đất có chiều cao là H1, thể tích V1, sau khi tăng áp lực đến p2 mẫu đất có chiều cao là H2, thể tích là V2. Độ lún của mẫu đất không nở hông là: -7- S H1 H 2 (1.4) Vr V Vs V Ta có: e Vs (1.5) Vs Vs 1 e Thể tích hạt Vs của một mẫu đất là không đổi và do không nở hông nên tiết diện mẫu A cũng không đổi : V1 V A.9) 1 e1 Nếu áp lực ban đầu là p1 = 0 và H1 = H, độ lún của nền có thể xác định bằng biểu thức sau: a a S p.