Chương 1. Tổng quan về bộ giao thức TCP/IP và sự phát triển của mạng Internet Giới thiệu chung Năm 1967 từ một thí nghiệm mạng do Robert L. ARPA trực thuộc bộ quốc phòng Mỹ đã kết nối 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1967 gồm: Viện nghiên cứu Standford, Đại học California tại Los Angeles, Đại học tổng hợp Utah và Đại học California tại Santa Barbara. Đó là mạng WAN đầu tiên được xây dựng được gọi là ARPANET sau này là mạng Internet [17] Bộ giao thức TCP/IP chính thức ra đời năm 1983 và được coi là chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với mạng ARPANET phải sử dụng theo chuẩn mới này.
Sự phát triển như vũ bão khiến cho mọi trường đại học đều muốn gia nhập vào mạng này và việc quản lý mạng trở nên khó khăn. Chính vì lẽ đó mạng ARPANET được tách ra thành 2 phần là MILNET và ARPANET mới vào năm 1983, tuy tách rời nhưng hai mạng này vẫn liên kết với nhau nhờ giao thức liên mạng IP. Sự ra đời của TCP/IP đánh dấu mốc lịch sử quan trọng và càng ngày càng hiện rõ điểm mạnh của nó nhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng. Vào thập kỷ 80 khi hội đồng Khoa học quốc gia Mỹ NSF (Nation Science Foundation) thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lới với nhau gọi là NSFNET.
Các doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET. Sau gần 20 năm hoạt động ARPANET đã dừng hoạt động vào khoảng năm 1990. Sự phát triển của backbone NSFNET và những mạng khác đã tạo ra mội trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet. Năm 1995 NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu và Internet thì tiếp tục phát triển.
Cùng với khả năng kết nối mở Internet đã trở thành một mạng lớn nhất thế giới, mạng của các mạng xuất hiện trong mọi linh vực thương mại, chính trị, quân sự, xã hội… Ngày nay khi cơ sở hạ tầng của mạng Internet được nâng cao đã làm cho nhu cầu của các ứng dụng đa phương tiện qua mạng tăng lên nhanh chóng. Tổng quan về truyền thông đa phương tiện (Multimedia) và chất lượng dịch vụ (QoS) 1. Giới thiệu chung về truyền thông đa phương tiện (Multimedia) Trước đây, khi mà Internet chủ yếu là truyền data thì người ta không cần quan tâm đến việc phân biệt và ưu tiên cho các gói tin bởi vì lúc này băng thông mạng và các tài nguyên khác đủ để cung cấp cho các ứng dụng trong mạng, vì vậy các ISPs sẽ cung cấp cho khách hàng của họ dịch vụ theo kiểu “Cố gắng tối đa” (Best-Effort - BE) khi đó tất cả các khách hàng sẽ được đối xử như nhau họ chỉ khác nhau ở loại kết nối. Đây là dịch vụ phố biến trên mạng Internet hay mạng IP nói chung.
Các gói thông tin được truyền đi theo nguyên tắc “đến trước được phục vụ trước” mà không quan tâm đến đặc tính lưu lượng của dịch vụ là gì. Điều này dẫn đến rất khó hỗ trợ các dịch vụ đòi hỏi độ trễ thấp như các dịch vụ thời gian thực hay video. Cho đến thời điểm này, đa phần các dịch vụ được cung cấp bởi mạng Internet vẫn sử dụng nguyên tắc Best Effort này. Dữ liệu truyền thông trên mạng Internet thường được chia làm 2 loại chính là dữ liệu dạng tĩnh và dữ liệu dạng động.
Các ứng dụng trên Internet truyền thống như Web, email, file tranfer thường truyền dữ liệu dạng tĩnh. Dữ liệu được truyền một cách nhanh nhất có thể. Tuy nhiên trộ trễ đầu cuối có thể lên tới 10s hoặc hơn vẫn chấp nhận được. Dữ liệu động ở đây thường là Audio hoặc Video và các ứng dụng truyền thông loại dữ liệu trên được gọi chung là ứng dụng đa phương tiện.
Loại dữ liệu này rất nhạy cảm với độ trễ nhưng lại cho phép sự mất mát gói tin trong một ngưỡng chấp nhận được. Tính chất hoàn toàn trái ngược với các ứng dụng truyền thống nên nó đòi hỏi chất lượng dịch vụ khác hoàn toàn với các ứng dụng truyền thống. Tùy theo từng yêu cầu về chất lượng dịch vụ có thể chia ứng dụng đa phương tiện thành 3 lớp cơ bản sau: Truyền audio và video đã được lưu trữ Truyển audio và video thời gian thực Ứng dụng tương tác audio và video thời gian thực z 4 1. Giới thiệu chung về chất lượng dịch vụ (QoS) Quality of Service – QoS: chỉ khả năng cung cấp các dịch vụ mạng cho một lưu lượng nào đó.
Mục đích chính là điều khiển băng thông, độ trễ và jitter. Giảm độ trễ, giảm tỉ lệ mất mát gói tin cho các ứng dụng thời gian thực và tương tác trong khi vẫn đảm bảo phục vụ tốt cho các luồng dữ liệu khác. Theo khuyến nghị của CCITT, E800 đưa ra một tính chất chung qua QoS: “Hiệu ứng chung của đặc tính chất lượng dịch vụ là xác định mức độ hài lòng của người sử dụng đối với chất lượng dịch vụ” Khuyến nghị ETR300003 của ETSI chia và cải tiến định nghĩa của ITU thành các định nghĩa nhỏ hơn, nó phù hợp với các yêu cầu và quan điểm của các nhóm khác nhau trong viễn thông đó là: Yêu cầu QoS của người sử dụng. Đề nghị QoS của nhà cung cấp dịch vụ.
Sử cảm nhận QoS từ khách hàng. Việc thực hiện QoS của nhà cung cấp dịch vụ. Yêu cầu QoS của nhà cung cấp dịch vụ. Như vậy một cách tổng quan QoS mang ý nghĩa là “Khả năng của mạng đảm bảo và duy trì các mức thực hiện nhất định cho mỗi ứng dụng theo như yêu cầu đã chỉ rõ của mỗi người sử dụng”.
Một ý trong định nghĩa này chính là chìa khóa để hiểu được QoS là gì từ góc nhìn của nhà cung cấp mạng. Nhà cung cấp dịch vụ mạng đảm bảo QoS cung cấp cho người sử dụng và thực hiện các biện pháp duy trì mức QoS khi điều kiện mạng thay đổi vì các nguyên nhận như tắc nghẽn, hỏng hóc thiết bị hay lỗi đường truyền v. v… QoS cần được cung cấp cho mỗi ứng dụng để người sử dụng có thể chạy ứng dụng đó tuy nhiên người sử dụng cũng cần phải tìm hiểu các thông tin từ người quản trị để hiểu mạng phải cung cấp những gì cần thiết cho mỗi sứng dụng. Đảm bảo chất lượng dịch vụ thường phụ thuộc nhiều vào tài nguyên của hệ thống, việc quản lý tài nguyên đó bao gồm có: Tính toán hiệu suất sử dụng tài nguyên Dành tài nguyên cho dịch vụ z 5 Lập lich truy cậpp tài nguyên Hình 1.1: Sự phát triển của QoS Các tham sốQoS chính liên quan đến đ mạng bao gồm: a) Độ trễ (Delay):: là thời th gian truyền 1 gói tin từ nguồn tớii đích, nó ph phụ thuộc vào tốc độ truyềnn tin.
Tốc T độ truyền tin càng lớn thì độ trễ càng nh nhỏ và ngược lại. Delay liên quan chặặt chẽ tới băng thông. Với các ứng dụng ng gi giới hạn băng thông thì băng ăng thông càng lớn l độ trễ càng nhỏ. b) Thông lượng (Throughput) là khả năng truyền tin đượcc tính bbằng tổn số đơn vị ng (Throughput): dữ liệu truyền đượcc trong 1 đơn vị v thời gian ví dụ: packet/s c) Jitter: là sự biếnn thiên độ đ trễ.
Thông số QoS jitter thiết lậpp gi giới hạn lên lượng biến đổi của độ trễ mà một ứng dụng có thể gặp phảii trên m mạng. Một cách chính xác hơn thì jitter được đư xem như là biến động trễ. Jitter theo lý thuyếtt có thể th là một giá trị tương đối hoặcc tuy tuyệt đối. Ví dụ nếu trễ mạng cho một ứng ng dụng d được thiết lập là 100ms, jitter có thểể đặt là cộng trừ 10% độ trễ.
Theo đó độ trễ tr đảm bảo phải dao động trong khoảng ng ttừ 90ms đến 110ms. Mặt khác nếu giá iá trị tr jitter là 5ms thì độ trễ phải dao động ng trong kho khoảng từ 95ms đến 105ms. Các ứng ng dụng d nhạy cảm nhất với jitter là các ứng ng ddụng thời gian thực z 6 như voice, video streaming nhưng lại không quan trọng đối với các ứng dụng như web hoặc truyền file qua mạng… Đây là vấn đề cố hữu trọng mạng chuyển mạch gói do cơ chế định tuyến và chuyển mạch các gói tin trong mạng của cùng một luồng có thể đi theo nhiều đường khác nhau để đến đích khi đó độ trễ của các gói tin nay là khác nhau dẫn tới việc jitter là không thế nào tránh khỏi. d) Tỉ lệ mất gói tin (Packet loss ratio): là số đơn vị gói tin bị mất trong một đơn vị thời gian, đây là một tham số QoS không thường xuyên được nói đến.
Bản chất của Internet hiên nay vẫn dựa trên nền “BE” thế nên việc mất gói tin là không tránh khỏi. Chính vì thế tham số QoS Packet loss không nên định rõ một giới hạn trên đối với anh hưởng của lỗi mà nên cho phép người sử dụng xác định xem có lựa chọn cách sửa lỗi bằng việc truyền lại không hoặc các cơ chế khắc phục khác. e) Độ khả dụng (Đáng tin cậy): Các mạng tồn tại để phục vụ người sử dụng , tuy nhiện mạng cần có các biện pháp bảo dưỡng và phòng người trước các tình huống hỏng hóc tiềm tàng được phát hiện và dự đoán trước. Một chiến lược đúng đắn bằng cách định kì tách các thiết bị ra khỏi mạng và thực hiện các công việc bảo dưỡng và chẩn đoán trong một thời gian gnawns để có thể giảm thời gian ngưng hoạt động do hỏng hóc.
Thậm chí với biện pháp bảo dưỡng hoàn hảo nhất cũng không thể tránh được các lỗi không tiên đoán trước và các lỗi nghiêm trọng của các thiết bị và kết nối theo thời gian. Việc bảo trì mạng dữ liệu trở nên đơn giản hơn, hầu hết mạng dữ liệu sinh ra dành cho kinh doanh thường là từ 8h sáng đến 6h chiều từ thứ 2 đến thứ 6. Các hoạt động bổ trở hoặc bảo trì có thể được thực hiện ngoài giờ hoặc trong các ngày nghỉ. Internet và web đã thay đổi tất cả, một mạng toàn cầu phải giải quyết được vấn đề rằng thực sự có một số người luôn cố gắng truy nhập vào mạng tại một số địa điểm và thậm chí Internet còn có ích cho một số người vào giờ ngoài hành chính hơn.000 giây, giả thiết rằng độ khả dụng của một mạng là 99% thì điều này có nghĩa rằng nhà cung cấp dịch vụ có 315.360 giây hay 87,6 giờ mạng không hoạt động trong 1 năm.
Khoảng thời gian này là tương đối lớn. Nếu giá trị này 99,99% thì sẽ tốt hơn nhiều.