CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ PHÒNG CHỐNG XÂM NHẬP MẠNG 1.1 Tổng quan đề tài 1.1 Xâm nhập mạng là gì? Xâm nhập mạng [1] đề cập đến bất kỳ hoạt động trái phép nào trên mạng. Xâm nhập mạng có hai loại, một là xâm nhập mạng để kiểm thử hay còn gọi là pentest, hai là tấn công mạng. Kiểm thử xâm nhập là hành động xâm nhập nhằm tìm ra lỗ hổng bảo mật trong hệ thống để khắc phục.
Sau khi tìm ra các lỗ hổng nghiêm trọng hoặc nguy hiểm, người kiểm thử sẽ đưa ra giải pháp để vá lỗ hổng nhằm bảo vệ tài nguyên của các tổ chức được bảo mật. Ngược lại, tấn công mạng là hành động lợi dụng mạng Internet để xâm nhập trái phép vào hệ thống website của cá nhân, tổ chức hay máy tính hoặc nguy hiểm hơn là cơ sở dữ liệu, … Mục đích chính của việc này là để đánh cắp thông tin, mã hóa dữ liệu hoặc làm gián đoạn các hoạt động vận hành của tổ chức cũng như doanh nghiệp. Những đối tượng của các cuộc tấn công này có thể là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp lớn nhỏ hoặc các cơ quan nhà nước. Đặc biệt, đối tượng phổ biến nhất bị nhắm đến là các doanh nghiệp bởi vì mục tiêu chính của những kẻ tấn công này là lợi nhuận.
Những tin tặc tấn công chủ yếu nhằm trục lợi phi pháp, tống tiền các doanh nghiệp. Ngoài ra, cũng tồn tại một số doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh tấn công mạng đối thủ của mình bằng cách đánh sập website của họ. Điều này gây ảnh hưởng ít nhiều đến hình ảnh và uy tín của công ty, thương hiệu.2 Phát hiện xâm nhập mạng Phát hiện xâm nhập mạng [1] là tập hợp các phương pháp và kỹ thuật dùng để dò tìm những hoạt động có dấu hiệu bất thường, đáng nghi ngờ trên mạng. Một tập hợp các phương thức, công cụ, và tài nguyên giúp cho người quản trị xác định, đánh giá, và báo cáo các hoạt động không được cho phép trên mạng được định nghĩa là hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS).
Phát hiện xâm nhập được hiểu là một tiến trình mà nó được quyết định khi một người dùng chưa được xác thực cố gắng xâm nhập trái phép vào hệ thống mạng. IDS với hàng triệu tình huống được trang bị để nhận dạng 5 tấn công cũng như cập nhật thường xuyên sẽ kiểm tra tất cả các gói tin đi qua nó và quyết định liệu gói tin này có vấn đề gì khả nghi hay không. Vì thế, hệ thống này đã trở nên thực sự quan trọng, đồng thời là lựa chọn hàng đầu trong việc phát hiện và phòng chống xâm nhập mạng. Công cuộc nghiên cứu và xây dựng hệ thống ngăn chặn và phát hiện xâm nhập (IDS/IPS) đang được nhiều người quan tâm cũng như phát triển và sẽ không ngừng phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Những sản phẩm thương mại hiện tại trên thị trường đều có chi phí cao, vượt ngoài khả năng đầu tư của nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ dẫn đến hệ quả là những nghiên cứu mã nguồn mở về IDS/IPS được đầu tư nghiên cứu và triển khai. Nhìn chung, những nghiên cứu trong nước liên quan đến IDS/IPS bằng mã nguồn mở tuy nhiều nhưng lại tập trung vào Snort. Ngoài ra, các nghiên cứu này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi, tồn đọng nhiều hạn chế như: không có giao diện thân thiện; chưa được tích hợp sẵn thành phần báo động, hoặc có thì cũng chỉ giới hạn qua giao diện console hay qua giao diện Web, chính vì thế nó chưa tạo được sự linh động và tiện dụng cho người dùng; do chỉ tập trung nghiên cứu về Snort làm cho các phần mềm mang tính chất đơn lẻ mặc dù nhu cầu tích hợp các tính năng giám sát khác nhằm đạt được hiệu quả sử dụng cao hơn chưa thật sự được chú trọng và phát triển. Mặt khác, IDS/IPS phải luôn trong tình trạng cập nhật những dấu hiệu tấn công mới vì các kiểu tấn công mạng đang ngày một tinh vi và phức tạp kéo theo những dấu hiệu của chúng liên tục thay đổi.
Chuyên viên quản trị mạng có thể dựa vào các phân tích khác chẳng hạn như dấu hiệu bất thường của lưu lượng vào hoặc ra khỏi hệ thống, hoạt động của RAM, CPU,. để phản ứng kịp thời. Thêm vào đó, hệ thống báo động cần triển khai phải mang tính chất đa dạng với nhiều hình thức, tiện dụng và linh động sẽ mang lại sự hỗ trợ thiết thực cho nhân viên quản trị mạng. Hầu hết các hệ thống có hai đặc điểm chung là tính đa dạng và thay đổi, điều này đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và chứng minh.
Công việc nghiên cứu và triển khai hệ thống giám sát, phát hiện và phòng chống xâm nhập mạng tồn tại các yếu tố: nhanh chóng, chính xác, trực quan, tiện lợi và linh động là một vấn đề cấp thiết trong thực tế. Phát triển một hệ thống giám sát trực quan để theo dõi các diễn biến trên mạng như: lưu lượng ra/vào một Server, Switch hoặc hoạt động của CPU, bộ nhớ,… sẽ giúp 6 người quản trị mạng có những phân tích rõ ràng, nhanh chóng để đưa ra quyết định ứng phó kịp thời khi bị hệ thống bị xâm nhập. IDS căn cứ vào các dấu hiệu tấn công được triển khai có thể giúp phát hiện một cách nhanh chóng các cuộc tấn công mạng. Khi kết hợp hệ thống với tường lửa sẽ có thể chống lại các cuộc tấn công xâm nhập.
Dù vậy, dấu hiệu của từng kiểu tấn công mỗi ngày một tinh vi phức tạp hơn thì hệ thống càng phải được cập nhật thường xuyên những dấu hiệu mới để có thể phát hiện nhanh chóng các bất thường trên mạng, người quản trị mạng có thể dựa vào những đồ thị trực quan về lưu lượng ra vào hệ thống để có những phản ứng kịp thời. Hệ thống báo động cũng cần thiết phải triển khai để gửi thông báo cho người quản trị trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng như: Server bỗng nhiên ngưng hoạt động, một dịch vụ mạng nào đó ngưng hoạt động hay có tấn công. Hệ thống có thể được triển khai qua nhiều hình thức khác nhau để phát thông báo như: qua Web, E-mail, tin nhắn SMS đến người quản trị mạng.2 Các hình thức tấn công mạng 1.1 Phân loại tấn công mạng Có nhiều loại tấn công mạng khác nhau theo đó mức độ nguy hiểm cũng khác nhau với từng loại, tuy nhiên có bốn loại tấn công nguy hiểm nhất mang sức mạnh phá hủy hạ tầng mạng một doanh nghiệp như [2]: 1. Tấn công từ chối dịch vụ (DDoS) Đây là loại tấn công rất phổ biến và cũng là một trong những tấn công mạng có khả năng phá hoại website doanh nghiệp lớn nhất.
Những cuộc tấn công bằng DDoS đe dọa trực tiếp và ngay lập tức đến sự hoạt động của các trung tâm dữ liệu của các doanh nghiệp. Những kẻ tấn công mạng sẽ có nhiều cơ hội để xây dựng các mạng botnet rộng lớn và sau đó kích hoạt các tấn công DDoS toàn cầu bởi sự gia tăng không ngừng của các thiết bị có kết nối IoT với bảo mật kém. Một chứng minh rõ ràng của điều này là sự cố "tắc nghẽn mạng" vào tháng 6, 2019 đã làm cho Google Cloud phải ngừng hoạt động và nó cũng làm ít nhất 16 sản phẩm vệ tinh của Google phải ngừng hoạt động theo, các sản phẩm này chính là: Gmail, G-Suite, Google Cloud, Google Drive, Google Docs và YouTube… 7 2. Mã hóa dữ liệu tống tiền (tấn công Ransomeware) Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp là mục tiêu được những tội phạm mạng nhắm vào bằng ransomware vì thiệt hại của nó có thể ảnh hưởng lâu dài trên diện rộng.
Dẫn chứng cho sự tấn công này là công ty lưu trữ Nayana (Hàn Quốc) bị tấn công bằng ransomware làm cho hàng nghìn website của khách hàng lưu trữ trên máy chủ của công ty bị đình trệ hoạt động suốt nhiều tuần liền. Mặc dù đã chi trả một triệu đô la Mỹ tiền chuộc, song vẫn còn nhiều dịch vụ chưa thật sự được phục hồi. Ngoài việc đe dọa dữ liệu của khách hàng trên máy chủ nhà cung cấp dịch vụ, loại tấn công này còn làm giảm sút lòng tin của khách hàng vào doanh nghiệp kinh doanh. Không chỉ có nguy cơ bị phát tán dữ liệu một cách công khai ở khắp mọi nơi, dữ liệu còn bị thay đổi, làm đe dọa đến tính toàn vẹn vốn có của dữ liệu.
Tấn công từ bên thứ ba Vì có thêm một bên thứ ba khác mà các nhà cung cấp dịch vụ bảo mật thường hay gặp phải sự cố khi quản lý bảo mật cho trung tâm dữ liệu của khách hàng. Với mục đích gây hại cho các doanh nghiệp, những kẻ tấn công thường nhắm đến mục tiêu là những nhà cung cấp dịch vụ bảo mật. Cụ thể là vào năm 2019, tổ chức của NordVPN (công ty cung cấp dịch vụ mạng riêng ảo có tính năng bảo mật hàng đầu được đông đảo các doanh nghiệp sử dụng để bảo vệ những dữ liệu nhạy cảm) đã thừa nhận việc một trong số những trung tâm dữ liệu của họ bị tấn công vào năm 2018. Sự việc xảy ra khi họ cài đặt hệ thống truy cập từ xa bởi một bên thứ ba mà chưa thông báo nó cho khách hàng làm dẫn đến tình trạng máy chủ thiếu an toàn.
Tấn công vào ứng dụng web do mật khẩu yếu Tuy không gây ảnh hưởng trực tiếp đến những dịch vụ của trung tâm dữ liệu nhưng bù lại những tấn công vào các ứng dụng web hoặc máy chủ, cụ thể như các form đăng nhập vào ứng dụng web vẫn có thể gây ra gián đoạn các dịch vụ web. Việc đặt mật khẩu yếu, kém hoặc mật khẩu dễ đoán của người dùng là nguyên nhân cho những loại tấn công này. Chúng có thể được thực hiện thông qua các cuộc tấn công đến từ ứng dụng web. Với những mục được nhắm từ trước việc tấn công tốn ít băng thông hơn nhưng nó vẫn có thể khiến các dịch vụ web ngừng hoạt động một cách dễ dàng.
8 Ngoài ra vẫn còn một số loại tấn công khác được sử dụng đến thời điểm hiện nay như: • Tấn công điểm cuối (Endpoint attacks): Các cuộc tấn công điểm cuối đã đạt được quyền truy cập trái phép vào các thiết bị người dùng, máy chủ hoặc các điểm cuối khác. Loại hình tấn công này gây ảnh hưởng đến các thiết bị khác bằng cách lây nhiễm bằng phần mềm độc hại.