CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1. Bối cảnh ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Trong lịch sử triết học thế giới, triết học hiện sinh ra đời sau triết học cổ truyền. Triết học cổ truyền hay còn gọi là triết học thiên nhiên thường lấy vạn vật trong thế giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra căn nguyên của vũ trụ; trong thế giới tự nhiên, con người vô cùng nhỏ bé, bị vũ trụ lấn át và bỏ quên.
Ngược lại triết học hiện sinh coi con người là trung tâm của thế giới và là đối tượng nghiên cứu chính yếu của mình. Vì vậy triết học hiện sinh còn được gọi là triết học về con người. Chủ nghĩa hiện sinh là trường phái triết học lớn trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lí thế kỉ XX. Thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” xuất phát từ tiếng La Tinh “existentia” (nghĩa thông thường là “tồn tại”) được hiểu như sự tồn tại của cá nhân cụ thể với một ý nghĩa nhất định.
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất tại Đức, phản ánh tâm trạng bi quan của xã hội Đức trong bối cảnh một nước thất trận và bị tàn phá nặng nề. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trung tâm của triết thuyết này chuyển sang Pháp, từ đó truyền bá tới nhiều nước ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi. Chủ nghĩa hiện sinh hình thành chủ yếu trên ba tiền đề, đó là tiền đề xã hội; nhận thức và tư tưởng. Thứ nhất, về mặt lịch sử xã hội, chủ nghĩa hiện sinh ra đời là hệ quả tất yếu của hai cuộc chiến tranh thế giới.
Hai cuộc thế chiến trở thành câu chuyện lớn nhất thế kỉ XX, nó phô bày một phương Tây hoang tàn, hỗn loạn trong thời kì hậu chiến. Nền kinh tế sụp đổ, hạ tầng công nghiệp và các thành phố bị tàn phá….Người dân phương Tây cảm thấy bất an, bi quan, tuyệt vọng, thấy mình như những “con số vô danh”, “những tấm thẻ vô hồn trong bộ máy 9 chiến tranh khổng lồ”[10;34]. Sự hỗn loạn của hoàn cảnh xã hội như chất xúc tác tới tâm hồn nhạy cảm của một lớp người trong xã hội, tạo tâm thế để họ sẵn sàng đón nhận một luồng tư tưởng mới, điền khuyết những khoảng trống trong tâm hồn. Đó chính là “luống cày mới” của chủ nghĩa hiện sinh.
Thứ hai, về mặt nhận thức, chủ nghĩa hiện sinh ra đời gắn liền với sự phản ứng lại của chủ nghĩa duy lí đề cao nền khoa học và triết học khách quan. Thế kỉ XX, cuộc cách mạng khoa học và kĩ thuật đem đến những thành tựu khiến cả thế giới choáng váng, đưa nhân loại bước vào thời kì phát triển kì diệu chưa từng thấy về sản xuất và sinh hoạt xã hội, làm thay đổi toàn diện, mạnh mẽ đời sống vật chất và tinh thần của con người. Tiến bộ của nền sản xuất xã hội được coi là thành quả của chủ nghĩa duy lí. Xã hội thể hiện ý thức lấy công nghệ làm nền tảng, khoa học kĩ thuật là chìa khóa vạn năng để giải quyết các vấn đề nhân sinh.
Với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, phương Tây đạt đến giai đoạn phát triển cao nhất chưa từng có, nhưng cũng ở đỉnh cao đó, phương Tây lâm vào khủng hoảng.Marx chỉ ra: “Trong thời đại chúng ta, mọi vật đều tựa hồ như bao hàm mặt đối lập của nó. Những thắng lợi kĩ thuật dường như đã mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần”[11;10]. Con người bị coi như “những lực lượng vật chất đơn thuần” tương tự như máy móc, một yếu tố của khoa học kĩ thuật. Bị đặt vào những tình thế bị đe dọa dữ dội về tồn tại.
Người châu Âu trở nên bi quan, không biết đặt niềm tin vào đâu, mọi sự đều vô nghĩa, phi lí. Yếu tố này đặt cơ sở cho tư tưởng hiện sinh nảy nở. Chủ nghĩa hiện sinh ra đời là vấn đề tất yếu mang tính nhận thức, là sự phản ứng lại chủ nghĩa duy lí, góp phần đòi lại nhân vị độc đáo, giải phóng tự do cá nhân, hướng con người về thế giới tinh thần, đời sống nội tâm sâu sắc, sống động. Thứ ba, cơ sở của chủ nghĩa hiện sinh đã manh nha trong một số tư tưởng về vấn đề con người và nhận thức của các nhà triết học ngay từ thời cổ đại.
Chúng tôi tạm chia ra hai nhóm nguồn ảnh hưởng: nhóm thứ nhất là 10 nguồn ảnh hưởng của triết học S. Kierkegaard, triết học đời sống của Schopenhauer, F. Nietzsche, hiện tượng luận E. Nhóm thứ hai là nguồn ảnh hưởng từ A.
Pascal, đạo tin lành, đạo Do Thái, I. Kant, chủ nghĩa lãng mạn Đức thế kỉ XIX….Đáng chú ý hơn cả là nguồn ảnh hưởng của nhóm thứ nhất, bởi nó tác động chủ yếu và trực tiếp tới tư tưởng chủ nghĩa hiện sinh sau này. Nietzsche được tôn xưng là hai triết nhân tiên khởi cho phong trào hiện sinh. Là những người mở đường cho hai nhánh triết học hiện sinh khác nhau là Hữu thần (S.
Kierkegaard) và Vô thần (F. Kierkegaard xây dựng triết học lấy con người cá nhân phi lí tính làm xuất phát điểm. Ông quan niệm thế giới là thế giới mà cá nhân thể nghiệm được, nhận thức được. Con người giữ vị thế chủ thể riêng biệt, có cá tính, khác với các sự vật khác, bởi vậy, chân lí là chân lí chủ quan, chân lí mang tính cá nhân tuyệt đối.
Kierkegaard, thân phận bị bủa vây, bơ vơ là hậu quả của việc xa rời thượng đế, vì vậy con đường nhân sinh là con đường đi tới Thượng đế. Nietzsche lại cho rằng, không thể có chân lí trừu tượng cũng không thể có nhận thức tuyệt đối mà chỉ có tri thức cụ thể, tri thức cụ thể gắn liền với thực tế sinh động, linh hoạt muôn màu. Phê bình luân lí cổ truyền, F. Nietzsche kêu gọi phủ nhận Thượng đế, giết chết Thượng đế.
Khi Thượng đế chết con người phải tự chủ, truy tìm chân lí ngay trong bản thân mình, “luôn luôn trở nên chính mình”, “phải là nhà điêu khắc để tạc nên chính mình [5;33]. Ông đưa ra quan điểm về con người siêu nhân – con người luôn luôn vươn lên, vượt qua thượng đế, vượt qua chính mình để đổ dồn vào cuộc hiện sinh. Siêu nhân là kẻ lữ hành cô độc, ý chí tự quyết, tự định đoạt giá trị, không bị quy ước bởi bất kì quan niệm có sẵn nào. Bàn về tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh không thể không nhắc tới Hiện tượng học của E.
Tư tưởng cơ bản của Hiện tượng học về 11 tính chủ thể và vị thế trung tâm, tích cực của con người chính là nền tảng quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh. Hiện tượng học đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong việc chuyển đổi hệ hình tư duy triết học, từ triết học tự nhiên sang triết học nhân sinh. Tóm lại, nhìn một cách sâu xa, chủ nghĩa hiện sinh cũng như các khuynh hướng khác của chủ nghĩa phi duy lí là hệ quả của tình trạng khủng hoảng tinh thần trầm trọng do chủ nghĩa duy lí gây ra trong xã hội phương Tây hiện đại. Từ sự khủng hoảng đó, con người nhận ra rằng các vấn đề xã hội và đời sống lâu nay tưởng chừng đã thấu tỏ nay bỗng trở nên mù mờ, khó thể lí giải.
Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh thể hiện thái độ phản kháng quyết liệt của giới trí thức phương Tây để giành lại vị thế của con người, là sự trở về với con người. Tư tưởng chính của chủ nghĩa hiện sinh Nhìn một cách tổng quát, chủ nghĩa hiện sinh đặc trưng bởi những tư tưởng sau: Con người ý thức về bản thân như một nhân vị độc đáo. Cái mà chủ nghĩa hiện sinh hướng về là con người nhưng đó không phải là con người phổ quát, con người viết hoa, mà là con người như một nhân vị, là tôi, là anh chứ không phải con người vô danh, vô vị. Con người hiện sinh luôn nhìn thẳng vào sự vật với nhãn quan của mình chứ không phải Thượng đế, thần linh.
Và để hiện sinh, con người luôn tham vọng đạt tới cái mà người ta muốn trở thành. Theo các nhà hiện sinh, nhân vị bao giờ cũng gắn liền với “tự do”. Tất cả các nhà hiện sinh đều cho rằng tự do là yếu tính của con người. Con người tự do là con người tự đảm nhiệm hành động, tự lựa chọn, sáng tạo để tạo nên nhân vị.
Tự do hiện sinh mang tính bản thể, xuất phát từ ý thức và tinh thần trách nhiệm. Vì vậy, mỗi quyết định là một giá trị hiện sinh. Chủ nghĩa hiện sinh lưu tâm tới phạm trù cô đơn. Con người cô đơn vì tự mình làm nên mình, làm nên thế giới, sống với tư duy của mình và không 12 dựa vào ánh sáng lí luận nào.
Cô đơn như một thứ quà tặng vĩnh cửu của con người, là định mệnh của mỗi người. Khi con người không ngừng cố gắng vươn lên để khẳng định bản ngã độc đáo của mình cũng là lúc con người vươn tới sự cô đơn tuyệt đối. Nếu cô đơn là quà tặng vĩnh cửu thì cái chết là người bạn đồng hành chung thủy nhất của con người. Các nhà hiện sinh nói nhiều về cái chết- một sự thật hiện hữu mà con người muốn quên đi.
Cái chết phá hủy mọi nỗ lực của con người nhưng đồng thời cũng có một ý nghĩa nhất định đối với sự sống ở việc thức tỉnh con người sống cho ra sống. Đời người không phải hơn nhau ở sự dài ngắn mà ở việc ta đã làm trong quãng thời gian ta sống. Cái chết là cánh cửa bước vào hiện sinh đích thực. Các nhà hiện sinh đều gặp nhau ở phạm trù lo âu/ưu tư.
Con người là một ngẫu nhiên tuyệt đối, một sinh vật bị ruồng bỏ trong thế giới mênh mông. Trong thế giới tự do kinh hoàng đó con người phải tự đảm nhiệm lấy mình mà không có điểm tựa nên không thể tránh khỏi suy tư và âu lo. Âu lo làm con người đau khổ nhưng cũng nhờ nó mà con người tìm thấy hiện sinh. Các triết gia hiện sinh cho rằng sự lo âu sinh ra để phản ứng lại tính cách thường nhật, bởi con người tỉnh thức thì không thể không lo âu.
Lo âu chính là bước đầu của sự đi lên, của sự phản tỉnh. Tha hóa được đề cập đến như một biểu hiện tự đánh mất mình của con người, không có cái gọi là bản ngã, biến mình thành một kẻ khác, chưa tự ý thức mình là một nhân vị độc đáo.