CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA - LỊCH SỬ - CỘNG ĐỒNG GIỮA CÁC LÀNG LIỀN KỀ VỚI CÁC KHU ĐÔ THỊ MỚI 1. Các khái niệm và thuật ngữ sử dụng trong luận văn 1. Khu đô thị mới Là khu vực xây dựng một hay nhiều khu chức năng của đô thị, được giới hạn bởi các ranh giới tự nhiên, ranh giới nhân tạo hoặc các đường chính đô thị. khu đô thị bao gồm: các đơn vị ở; các công trình dịch vụ cho bản thân khu đô thị đó; có thể có các công trình dịch vụ chung của toàn đô thị hoặc cấp vùng.
Làng truyền thống Làng là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức xã hội quan trọng của nông thôn các quốc gia ở châu Á. Suốt nhiều thế kỷ, làng là đơn vị tụ cư cổ truyền lâu đời ở nông thôn người Việt và là nhân tố cơ sở cho hệ thống nhà nước quân chủ tại Việt Nam. Từ thời Hùng Vương, làng được gọi là chạ. Đơn vị này có thể coi tương đương với súc của người Khơme, bản, Mường (của các dân tộc thiểu số phía Bắc), Bụn (của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên-Trường Sơn).
Làng của những người làm nghề chài lưới được gọi là vạn hay vạn chài. Làng truyền thống điển hình thời trung và cận đại là một tập hợp những người có thể có cùng huyết thống, cùng phương kế sinh nhai trên một vùng nhất định. Làng ̣được xem có tính tự trị, khép kín, độc lập, là một vương quốc nhỏ trong vương quốc lớn nên mới có câu "Hương đảng, tiểu triều đình". Năm 1428, Lê Thái Tổ phân chia lãnh thổ thành các đơn vị, gọi là tiểu xã, trung xã và đại xã.
Thời nhà Lê đánh dấu việc nhà nước tăng cường kiểm soát làng xã.1: Các loại cấu trúc làng truyền thống (nguồn: tác giả) 18 Viên quan cai trị làng lúc đó gọi là "xã quan". Năm 1467 thì bỏ "xã quan", thay bằng "xã trưởng". Viên chức này không còn do triều đình bổ nhiệm nữa mà là do dân làng tuyển cử. Từ đó trở đi triều đình chỉ kiểm soát từ cấp huyện trở lên còn xã được coi như tự trị.
Xã trưởng đến triều Minh Mệnh nhà Nguyễn thì đổi là "lý trưởng". Sự phân biệt làng, xã, thôn chỉ mang tính chất tương đối vì thực tế trong quá trình phát triển có các làng gốc Việt tách ra qua hai, ba thế hệ thành nhiều thôn xóm để rồi thành lập các làng xã mới như làng Nhân Chính, Hòa Mục, Từ Liêm là thế hệ thứ ba của làng Mộc. Cũng do quá trình biến đổi tách nhập nhiều làng thôn độc lập ghép lại với nhau thành một xã mới. Như vậy xã-làng-thôn- xóm có sự chuyển hóa cho nhau trong quá trình phát triển và thay đổi chế độ xã hội hay quản lí hành chính.
Quá trình biến đổi xã hội phức tạp nhưng làng vẩn là một thực thể đơn cư, một đơn vị phức hợp nhiều chức năng ít biến đổi nhất. Làng ngoại thành Hà Nội vẫn mang những nét đặc trưng của làng truyền thống của người Việt. Tuy vậy do quá trình phát triển của Thăng Long, kinh đô của nước Đại Việt qua các thời kỳ đã có những phường, trại, thôn theo chế độ độc lập điền, quan điền và phong thưởng xuất hiện từ rất sớm. Qua nhiều thế kỷ những phường trại này trở thành làng nông nghiệp và có truyền thống.
Không gian văn hóa - lịch sử - cộng đồng (VH-LS-CĐ) Nhiều nghiên cứu cho rằng, về hình thái học, đô thị Việt Nam như là một sự chuyển tiếp kéo dài từ làng sang đô thị theo khái niệm phổ biến.Các khu phố cổ hoặc phố cũ ở Hà Nội, Hội An và Huế phản ánh khá đầy đủ những đặc điểm xã hội và hình thái học kiến trúc của cấu trúc đô thị Việt cổ truyền. Cũng do các đặc điểm trên nên trong nhiều đô thị Việt Nam còn lưu giữ gần như nguyên vẹn các giá trị hệ thống thiết chế văn hóa của nền văn minh nông nghiệp Việt cổ truyền. Nhất là còn tồn tại nhiều cấu trúc làng, xã, nhiều cụm, quần thể công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng như Đình, Đền, Chùa, Cổng 19 làng… mà ở đó dường như là sự ngưng đọng của “Không gian văn hóa - lịch sử - cộng đồng” (VHLSCĐ) theo dòng chảy của thời gian, một trong những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được bảo lưu qua nhiều thế hệ. Điều đó khẳng định, phần lớn các đô thị Việt Nam đang lưu giữ những giá trị đặc biệt và nổi trội (những giá trị truyền thống).
Nhiều chuyên gia cho rằng, có thể trong qui hoạch đô thị, nên hiểu “Không gian văn hóa - lịch sử - cộng đồng” luôn là yếu tố tạo dựng “bản sắc dân tộc”, “bản sắc địa phương”, một nét rất riêng mang hòa khí linh thiêng của địa phương, của dân tộc mình mà ở địa phương hay ở dân tộc khác không có. Đó là quá trình chắt lọc một cách tự nhiên những tinh hoa về vật chất, tinh thần trong quá trình phát triển của địa phương, của dân tộc. Còn tính hiện đại không có nghĩa là sự sao chép một cách máy móc các xu thế bên ngoài để gán ghép cho các đô thị mà được hiểu như là sự thích ứng trong quá trình hội nhập và phát triển của một giai đoạn lịch sử nhất định. Sự hiện diện của các “ Không gian văn hóa -lịch sử - cộng đồng” ngay trong lòng các đô thị hiện đại vừa là đặc điểm của cấu trúc đô thị vừa thể hiện “bản sắc” của đô thị Việt Nam, một vốn quí của đô thị trong sự cạnh tranh “ gay gắt” của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Bởi đô thị ngày càng có tính cạnh tranh cao bởi bản sắc, tính riêng biệt, tính địa phương… nên đô thị càng có sắc thái riêng biệt càng có nhiều sự hấp dẫn và tính cạnh tranh cũng càng trở nên cao hơn so với các đô thị khác. Kết nối không gian Đây là khái niệm chung nói về sự liên kết giữa các không gian với nhau, có thể là liên kết cụ thể (bằng việc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan) hoặc trừu tượng tùy thuộc mục đích cần đạt được và đặc điểm, tính chất của mỗi loại không gian (văn hóa, lễ hội…) 1. Tổng quan chung về công tác bảo tồn, kết nối không gian văn hóa-lịch sử- cộng đồng (VH-LS-CĐ) 20 1. Công tác bảo tồn không gian VH-LS-CĐ ở nước ngoài Khắp nơi trên hành tinh này, chúng ta đều có thể tìm thấy những di sản (vật thể và phi vật thể) vô cùng quý giá.
Đó là những tài sản được lựa chọn dựa trên tầm quan trọng về tự nhiên và văn hóa, được các quốc gia bảo vệ và gìn giữ theo đúng Công ước di sản thế giới, được UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc) công nhận và quản lý. Các thông lệ quốc tế thường dựa vào văn kiện tiêu biểu là hiến chương Venice 1964 với sự xác nhận của công ước về DSVH thế giới của UNESCO 1972, sau này được bổ sung văn kiện Nara 1994. Trong hiến chương Venice, định nghĩa về di tích lịch sử như sau: “Khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hoá”.
Hiến chương Venice đòi hỏi việc gìn giữ tính nguyên gốc của di sản nhằm tránh làm sai lạc các chứng cứ lịch sử và khoa học. Sở dĩ hiến chương nhấn mạnh điều đó là do phương Tây đã trải qua kinh nghiệm phục hồi chua xót di sản vào thời Phục Hưng, đã từng tùy tiện nâng cấp cải tạo hoặc trùng tu thêm thắt theo phong cách mới của thời đại hoặc thị hiếu cá nhân. Tuy nhiên, gần đây nhiều hội nghị quốc tế đã chỉ ra rằng hiến chương Venice nay đã phần nào lỗi thời trong quan niệm “giữ gìn nguyên gốc” và hướng sang đề cao văn kiện Nara. Nhật Bản từng có thông lệ từ thế kỷ thứ 7 là cứ 20 năm họ tiến hành trùng tu các công trình tôn giáo Thần đạo tại khu Ise truyền thống.
Điều này rõ ràng là không phù hợp với tinh thần châu Âu của hiến chương Venice. Vì vậy vào năm 1994, các chuyên gia đầu ngành bảo tồn di sản của các tổ chức quốc tế và 25 nước đại diện các châu lục đã họp tại Nara đề ra các điều 21 bổ sung mới về tính nguyên bản của di sản. Nghĩa là phải tính đến các yếu tố phi vật thể, phù hợp với thực tế của thời đại như các yếu tố chức năng và tác dụng, truyền thông và kỹ thuật, tinh thần và tình cảm. Hiện nay, thông lệ quốc tế khuyến khích giữ gìn nguyên trạng di sản nhưng cũng uyển chuyển áp dụng các qui định mới, nhằm biến DSVH sinh động hơn và không “đóng băng” chúng trong thời kinh tế thị trường.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã làm rất thành công việc bảo tồn, phát huy các công trình cổ, các giá trị truyền thống và tổ chức, kết nối chúng hòa nhập với các không gian mới xây dựng.