phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận nghiên cứu “Vấn đề cải biên tác phâm Nguyễn Nhật Ánh — Trojờng hợp các phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh và Cô gái đến từ hôm qua”, có tong cong 113 trang, dojge chia thành ba choJơng chính. Chong 1: Mot số vấn đề về cải biên học và phim cải biên từ tác phẩm văn học. (từ trang 10 đến trang 36) Chơng 2: Phim cải biên từ truyện Nguyễn Nhật Ánh qua nghệ thuật kê chuyện. (từ trang 37 đến trang 73) Chơng 3: Phim cải biên từ truyện Nguyễn Nhật Ánh qua góc nhìn ký hiệu học.
(từ trang 74 đến trang 113) CHGIJONG 1 MOT SO VAN DE VE CAI BIEN HOC VA PHIM CAI BIEN TU TAC PHAM VAN HOC Trong dòng chảy của các loại hình nghệ thuật, điện ảnh là loại hình sinh sau đẻ muộn nhơịng lại đoJợc sự đón nhận nồng nhiệt. Phim cải biên là một trong những hình thức giải mã tác phẩm văn học của đạo diễn. Những lí thuyết, những quan điểm về cải biên đã đơjợc đơja ra và tranh luận. Văn học và điện anh, hai loại hình nghệ thuật tồn tại có tính độc lập tojơng đối với nhau nhoịng vẫn có những điểm chung nhất định.
Những bộ phim cải biên tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh giúp gắn kết hai loại hình nghệ thuật này lại với nhau. Mỗi quan hệ giữa văn học và điện ảnh Điện ảnh ra đời vào nửa cuối thế kỉ 19, ngày khai sinh ra ra loại hình nghệ thuật thứ bảy này là ngày 28 tháng 12 năm 1895, đây là ngày công chiếu phim chuyên động đầu tiên đơjợc anh em nhà Lumière đơiợc tô chức tại Salon Indien (Phòng Ấn Ðộ) nằm dơjới tầng hầm của quán cà phê Grand Café ở Paris, Pháp. Những khách vào xem phim phải trả một mức giá là một franc dé xem ching madi đoạn phim ngắn dài một phút. Đoạn phim đầu tiên trong số này đơjợc Anh em Lumière quay vào khoảng tháng § năm 1894 tại tầng trệt căn hộ của họ ở đojờng Saint Victor (Lyon), nay đã đơiợc đổi tên thành đơiờng Premier Fiim (nghĩa là Bộ phim dau tiên).
[60] Sau khi thấy dojgc gia tri tiềm ấn của điện ảnh, hàng loạt nhà làm phim đã bất đầu thử thách với loại hình giải trí mới này và cho ra đời những bộ phim đầu tiên của họ. Sau đó dựa trên nền tang lý luận điện ảnh và các trojờng phái nghệ thuật nhoỊ chủ nghĩa ấn toJợng, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực.nhiều troiờng phái điện ảnh ra đời, tạo đoøjợc những điểm nhấn quan trọng trong lịch sử điện ảnh. Các quan điểm về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh cũng đoJợc các nhà làm phim và nghiên cứu phim tranh luận từ rất sớm với những diễn biến ngày càng phức tạp hơn. 10 Điện ảnh tiếp tục dòng chảy của mình cho ra đời những thojớc phim hết sức có giá trị, trong số đó có không ít những bộ phim đơjợc cải biên từ tác phâm văn học.
Văn học và điện ảnh là hai loại hình nghệ thuật độc lập nhơing lại tìm thấy điểm chung trên hành trình biểu hiện cái đẹp của mình. Và trong lịch sử điện ảnh Việt Nam phim cải biên đã tạo nên sự gắn kết giữa hai lĩnh vực nghệ thuật này. Một khi mà nhu cầu xem phim của khán giả ngày càng gia tăng thì khán giả càng muốn tìm hiểu, khám phá những cái hay cái đẹp trong những tác phẩm điện ảnh mà họ đơjợc xem. Và chính lúc này, văn học trở thành trợ thủ đắc lực giúp phim ảnh có thê tiếp tục lôi kéo khán giả đến rạp bằng nguồn tơi liệu dồi dào sẵn có của mình.
Đôi khi, việc khán giả yêu thích một tác phẩm văn học nào đó có thé dojge nha làm phim tận dụng, vì đây một phần của sự hứng thú của khán giả khi xem phim, nghĩa là họ đojợc thấy ngôn từ chuyên thành hình ảnh, tất nhiên sẽ tròng khớp với những tiềm năng tài chính ngày càng tăng mà màn bạc có đojợc với toi cách hmột loại hình giải trí đại chúng đang lớn mạnh [54, tr.26-27] Dién anh thojong vay mojgn rất nhiều từ truyện ngắn, tiêu thuyết, kịch và tắt cả những thé loại hojớng tới việc kế chuyện. Câu chuyện là điều mà văn học và điện ảnh còng chia sẻ, bởi vì chúng cung cấp những nguyên liệu cơ bản từ thực tế hoặc ho cau, vé những sự kiện, đời sống, nhân vật, và những hành động của chúng. Điện ảnh và văn học cũng chia sẻ qua cấu trúc tự sự những câu chuyện thông qua cốt truyện, nghĩa là trình bày những sự kiện theo một trật tự nhất địnhvà qua tự sự, nghĩa là việc tạo dựng và thêm màu sắc cho cốt truyện với một điểm nhìn nhất định. Nhìn chung, “Điện ảnh là loại hình nghệ thuật tổng hợp thể hiện bằng hình ảnh động, kết hợp với âm thanh, đojợc ghi trên vật liệu phim nhựa, băng từ, đĩa từ và các vật liệu ghi hình khác đề phổ biến đến công chúng thông qua các phoJơng tiện ki thuật.Tác phẩm điện ảnh là sản phẩm nghệ thuật đojợc biêu hiện bằng hình ảnh động kết hợp với âm thanh và các phơojơng tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện ảnh” [Điều 4 Luật điện ảnh].
Tuy tồn tại dojới hai hình thức khác biệt, nhơIng giữa văn học và điện ảnh vẫn có những sợi dây gắn kết tạo nên những điểm toJơng đồng. Trojớc tiên, chúng tô 11 nhận ra rằng cả hai loại hình nghệ thuật này đều cần có cảm hứng sáng tạo. Sáng tạo trong nghệ thuật chính là một trong những nhân tố quyết định sống còn của các tác phâm văn học và điện ảnh. Không một tác phẩm nào có thể di theo những khuôn khổ sáo mòn và lặp lại những gì ngojời khác đã làm mà có thê tồn tại đojợc trong thế giới nghệ thuật.
Bởi sự bắt chơjớc là có thể chấp nhận đojợc, nhơing sự lặp lại hàn toàn thì chẳng mang một chút ý toJởng sáng tạo nào sẽ nhanh chóng bị đào thải. Có thể còng một chủ đề viết về tuổi trẻ, nhoịng những tác phẩm đoạt giải văn học tuổi 20 lại có những cảm hứng sáng tạo khác nhau. Trojơng Anh Quốc lựa chọn viết về ngơjời trẻ trên biển khơi; Nguyễn Thị Mạnh Hà chọn viết về tuổi trẻ của bản thân, những ngày tháng sinh viên và những trắc trở của ngojời mới bojớc ra ngoài xã hội; Thiên Di lại lựa chọn viết về những giao diện, hay những bản chất, nét tính cách phức tạp của ngojời trẻ khi mới chập chững bojớc vào đời. Cả văn học lẫn điện ảnh đều lựa chọn cho riêng mình những phoJơng pháp, thủ pháp sáng tạo đề tạo nên chỉnh thể nghệ thuật riêng.
Đó là cách mà nhà văn, đạo diễn tạo ra những nhân vật của mình, cách họ kể lại những câu chuyện, cách lựa chọn đề tài chủ đề,.Chính cảm hứng sáng tạo nghệ thuật tạo sợi dây liên kết giữa nhà văn và đạo diễn. Họ dễ tìm thấy sự tơiơng đồng trong cảm xúc, nhà văn tìm thấy thế giới của những câu chuyện thông qua những ngôn ngữ tạo hình. Còn đạo diễn cũng cùng câu chuyện ấy sẽ cảm nhận theo những ý tojởng và các đọc hình ảnh thông qua ngôn từ. Văn học mang chức năng thâm mi, giao tiép, nhan thtrc, giai tri, gido duc., và điện ảnh cũng toJơng tự nhoi vậy.
Cùòng là những loại hình nghệ thuật vì thế tính thâm mỹ chính là yếu tố đầu tiên mà cả văn học lẫn điện ảnh đều cần phải có. Một tác phẩm văn học, một bộ phim khi ra mắt đều phải có sự tơjơng tác với ngotời đọc, ngơjời xem và đây cũng là nhân tố quyết định sự tồn tại của một tác phẩm. Vì không đơn thuần chỉ là kế chuyện nên cả văn học lẫn điện ảnh đều có những chức năng về nhận thức và chúng ta cũng cần xem xét chức năng giải trí của cả hai loại hình này. Đề tạo nên một chỉnh thé thi trong quá trình xây dựng tác phẩm của mình cả nhà văn và đạo diễn đều áp dụng những biện pháp nghệ thuật khác nhau.
Đó là 12 những cấu trúc tự sự, các phép tu từ nhơi so sánh, ân dụ, hoán dụ, tojgng trong. Việc này làm cho tác phẩm trở nên sinh động và giàu hình ảnh hơn. Dò có những điểm giống nhau, tuy nhiên xét cho còng thì văn học và điện ảnh vẫn là hai loại hình nghệ thuật khác nhau nên vốn đĩ sẽ có những điểm khác nhau cơ bản. Thứ nhất, đó là về chất liệu sáng tác.
Với văn học thì ngôn từ chính là chất liệu không thể thiếu trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Ngôn từ chính là yếu tố phi vật thể mang những đặc trong riêng của ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ lại là tổng thể các đơn vị, phojơng tiện, cách kết hợp các yếu tố nhơi ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng.nên rất phong phú và biến đổi đa dạng. Ngôn từ trong văn học chính là những ngôn từ giàu tính hình tơjợng, biểu cảm và đa nghĩa.
Chính vì thế mà khi đọc một tác phẩm sẽ có những cách hiểu khác nhau. Ngôn từ dùng trong sáng tác nhiều lúc cũng rat gần gũi với ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên khi đã đojợc dòng trong sáng tác thì ngôn từ lúc này cũng mang một chức năng thâm mĩ nhất định. Chất liệu sáng tác của điện ảnh phong phú hơn, bởi đây là nghệ thuật tổng hợp các yếu tố nhơi: hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, diễn viên, bối cảnh, kĩ thuật.
Tuy nhiên hình ảnh vẫn giữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất trong các yếu tố. Đề có một bộ phim hoàn chỉnh phải có sự góp sức của các yếu tô trên. Chính nhờ sự sinh động trong từng thojớc phim mà điện ảnh nhơi dễ dàng đến với công chúng hơn. Ngơjời xem dễ dàng hòa mình vào trong bối cảnh của phim hơn, những cảnh nói non hùng vĩ, hay sa mạc bão táp đều đojợc hiện ra trojớc mắt.
Kịch bản phim càng gần yếu tố hiện thực cuộc sống bao nhiêu thì việc khắc họa những điều đó lên màn ảnh sẽ càng đơn giản và chân thực hơn bấy nhiêu. Ngôn ngữ điện ảnh giúp công chúng dễ tiếp nhận hơn ngôn ngữ văn học. Vì nếu một ngojời không biết chữ thì sẽ không thể nào đọc đojợc tác phâm văn học, thế nhoạng họ lại có thể xem phim. Đối với các tác phẩm điện ảnh cải biên từ văn học thì đạo diễn phải là ngojời đọc tác phâm văn học trojớc và cố gắng tái hiện những g8 mình cảm thấy thú vị hoặc tranh luận thông qua ngôn ngữ điện ảnh để truyền đến ngơjời xem.