CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lý thuyết nền tảng Đối với hoạt động nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi đã được thực hiện thì có hai mô hình nghiên cứu cổ điển đã được sử dụng bao gồm: 1. Lý thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Vào năm 1967, nhà tâm lý học Martin Fishbein đã lần đầu tiên phát triển lý thuyết hành vi hợp lý hay còn gọi là là lý thuyết TRA. Sau này, vào năm 1975 lý thuyết này tiếp tục được sửa đổi và mở rộng bởi “cha đẻ” của nó là ông Martin Fishbein và một nhà tâm lý học khác là ông Icek Ajzen.
Theo như lý thuyết TRA đã sửa đổi, các cá nhân có cơ sở cũng như động lực để thực hiện hành vi của họ và đưa ra một sự lựa chọn hợp lý giữa các giải pháp, TRA cho rằng ý định là yếu tố dự đoán trực tiếp nhất và gần nhất của hành vi thực tế. Có hai yếu tố sẽ ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi đó là thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan hành vi.1: Mô hình lý thuyết hành vi hợp lý 8 Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975 1. Lý thuyết hành vi có kế hoạch hay lý thuyết hành vi hoạch định (The Theory of Planning Behaviour-TPB) TPB được phát triển bởi Ajzen vào năm 1991, ông cũng là một trong hai nhà mở rộng lý thuyết TRA trước đó (1975). Nhìn chung, TPB là một lý thuyết được mở rộng dựa trên lý thuyết TRA.
So với TRA thì TPB khắc phục được các hạn chế và cung cấp một mô hình đầy đủ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi của cá nhân. Trong lý thuyết này tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ ảnh hưởng bởi ba yếu tố: Thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan hành vi và nhận thức về kiểm soát hành vi.2: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch Nguồn: Ajzen, 1991 Ý định hành vi là một dấu hiệu của một cá nhân sẵn sàng thực hiện một hành vi nhất định. Nó được giả định là tiền trước của hành vi (Ajzen, 1991). Nó là nền tảng về thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan, và kiểm soát hành vi nhận thức, với mỗi yếu tố dự báo có trọng số vì tầm quan trọng của nó liên quan đến hành vi và dân số quan tâm.
Theo đó, ta có thể hiểu ý định từ thiện là một suy nghĩ mà ở 9 đó các nhân sẵn sàng tham gia các đóng góp từ thiện hoặc các hoạt động thiện nguyện. TPB đã được sử dụng để dự đoán ý định của các nhà tài trợ tiềm năng trong nhiều hoạt động vì xã hội khác nhau, chẳng hạn như tình nguyện, hiến máu, hiến nội tạng, và hiến tủy xương. Tuy nhiên, cho đến nay chỉ có một số lượng tương đối nhỏ nghiên cứu đã xem xét TPB trong bối cảnh đóng góp từ thiện. Qua quá trình nghiên cứu nhóm đã nhận thấy được sự hữu ích của mô hình này trong việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định từ thiện cũng như những hạn chế của mô hình trong việc nghiên cứu.
Nhóm quyết định dựa vào mô hình TPB kết hợp với các yếu tố nhân khẩu học (Thu nhập) và các yếu tố mà nhóm tự đề xuất để thực hiện bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định từ thiện của người dân thành phố Hồ Chí Minh”. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 1.1 Nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Snipes và Oswald (2010) Theo Snipes và Oswald (2010) nghiên cứu về cơ quan - đặc điểm nhân khẩu học của người tiêu dùng và dân tộc ảnh hưởng đến hoạt động từ thiện được thực hiện ở Mỹ. Áp dụng phương pháp hồi quy đa biến dựa trên 304 cỡ mẫu. Nghiên cứu này bổ sung thêm vào cơ thể của nghiên cứu đã được thực hiện trong lĩnh vực đóng góp từ thiện để giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa hai khía cạnh này.
Ưu điểm: Bài nghiên cứu này điều tra sáu yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động từ thiện. Cụ thể, kiểm tra những yếu tố đã được xác định trước đó trong tài liệu để xác định cái nào có tác động lớn nhất về hoạt động từ thiện. Đồng thời cũng kiểm tra những gì mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này có liên quan đến nhân khẩu học 10 của nhà tài trợ. Mặc dù tài liệu từ thiện cho thấy rằng nhân khẩu học là quan trọng những người có ảnh hưởng đến hành vi đóng góp từ thiện, rất ít nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện để hiểu rõ hơn mối quan hệ này.
Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy rằng một số các yếu tố có ảnh hưởng khác nhau giữa các nhóm nhân khẩu học. Các tác động quản lý được thảo luận.3: Mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch Nguồn: Nghiên cứu của Snipes và Oswald (2010) Nghiên cứu của Jennifer và cộng sự (2011) Theo Jennifer và cộng sự (2011) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định từ thiện của các nhà tài trợ tại Hong Kong. Áp dụng mô hình SEM, hồi quy đa biến, nghiên cứu EFA dựa trên 222 cỡ mẫu. Nghiên cứu này nhằm điều tra lý 11 thuyết về hành vi có kế hoạch, một mô hình phương trình cấu trúc kết hợp thái độ của cá nhân, chuẩn mực đạo đức cá nhân và chủ quan định mức được đề xuất để đo lường giá trị trải nghiệm của các nhà tài trợ và ý định hiến tặng.
Ưu điểm: Nghiên cứu này đóng góp vào quỹ từ thiện của cá nhân nghiên cứu. Đầu tiên, nó làm nổi bật bản chất của lý thuyết về hành vi có kế hoạch, và sau đó liên hệ nó trình ra quyết định của các nhà tài trợ/tình nguyện viên. Nghiên cứu còn cung cấp một mô hình cấu trúc về hành vi từ thiện của cá nhân và đào sâu mô hình với dữ liệu thực nghiệm từ quan điểm của các nhà tài trợ/tình nguyện viên. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, nghiên cứu này cũng đưa ra những ý nghĩa thiết thực đối với người gây quỹ.
Ví dụ: kiểm soát tác động đáng kể các yếu tố về ý định từ thiện của mọi người và việc xem xét các chiến lược sẽ mang lại cho họ lợi nhuận lớn nhất từ mỗi hoạt động từ thiện. Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy thái độ cá nhân đối với tổ chức từ thiện, hoạt động từ thiện và hoạt động từ thiện tác động đến cả giá trị trải nghiệm và ý định từ thiện một cách tích cực, trong khi chuẩn mực đạo đức của cá nhân chỉ tác động đến giá trị kinh nghiệm và tác động tiêu chuẩn đối tượng không có giá trị kinh nghiệm hay ý định từ thiện. Giấy cung cấp thông tin chi tiết mới về hành vi từ thiện của từng cá nhân. Ngoài ra, nó khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị trải nghiệm của các nhà tài trợ và ý định từ thiện.
Hơn nữa, nó cung cấp các hàm ý cho người gây quỹ.4: Mô hình nghiên cứu của Jennifer và cộng sự (2011) Nguồn: Jennifer và cộng sự (2011) Nghiên cứu của Noor và cộng sự (2015) Theo Noor và cộng sự (2015) nghiên cứu về các đặc điểm của từng nhà tài trợ để có thể giúp xác định và mô tả dễ nhận biết các đặc điểm của từng nhà tài trợ. Áp dụng phương pháp hồi quy đa biến dựa trên khảo sát của 556 cỡ mẫu. Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra các đặc điểm của các nhà tài trợ từ thiện Malaysia và nghiên cứu tiếp nối nghiên cứu về đặc điểm của các nhà tài trợ ở Anh, Úc, Brunei và Pakistan để phát triển sự hiểu biết tốt hơn các yếu tố quyết định bên ngoài của nhà tài trợ Malaysia (các yếu tố quyết định nhân khẩu học và các yếu tố quyết định nhân khẩu học xã hội) và nội tại các yếu tố quyết định (các yếu tố quyết định tâm lý). Điểm mạnh: Nghiên cứu này điều tra các đặc điểm của các nhà tài trợ từ thiện Malaysia và nghiên cứu tiếp nối nghiên cứu về đặc điểm của các nhà tài trợ ở Anh, Úc, Brunei và Pakistan để phát triển tốt hơn các yếu tố quyết định bên ngoài của nhà tài trợ Malaysia và nội tại các yếu tố quyết định tâm lý.
Dữ liệu được thu thập 13 từ các nhà tài trợ riêng lẻ ở khu vực miền Trung của Malaysia bao gồm Selangor, Lãnh thổ Liên bang Kuala Lumpur, Negeri Sembilan và Melaka. Để đo lường kết quả, phân tích nhân tố được sử dụng trong việc phát triển và đánh giá bài kiểm tra và thang đo. Sau đó, hồi quy logistic được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa biến. Về cơ bản, nó được sử dụng khi các biến phụ thuộc có tính phân loại (nhà tài trợ / không nhà tài trợ).
Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy tuổi, thu nhập, các yếu tố giáo dục và tôn giáo ảnh hưởng đến hành vi quyên góp từ thiện ở Malaysia. Hơn nữa, nghiên cứu cũng xác định chính sự khác biệt giữa đặc điểm của các nhà tài trợ từ Malaysia với Anh, Úc, Brunei và Pakistan. Các phát hiện chỉ ra rằng các đặc điểm của các nhà tài trợ khác nhau giữa mỗi quốc gia và cần có nhiều thăm dò hơn nữa trong lĩnh vực này.5: Mô hình Nghiên cứu của Noor và cộng sự (2015) Nguồn: Noor và cộng sự (2015) 14 Nghiên cứu của Ranganathan và Henley (2008) Nghiên cứu về Yếu tố quyết định việc quyên góp từ thiện: Một phương trình cấu trúc mẫu của Ranganathan và Henley (2008) được thực hiện ở trung nam Hoa Kì sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu là EFA và CFA với dữ liệu được lấy từ 214 người. Ưu điểm của bài nghiên cứu này là có liên quan cho các nhà nghiên cứu hàn lâm.
Vì ACO là một yếu tố quan trọng quyết định đến ý định quyên góp, mối quan hệ của nó với các biến khác như Attad và tôn giáo có thể được nghiên cứu chi tiết. Đặc biệt, chúng tôi nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu mối quan hệ giữa Attad và ACO. Có một Attad tích cực khiến mọi người có thái độ tích cực ACO? ACO có thể được xây dựng thông qua Attad không? Có phải đây là mối quan hệ được trung gian hoặc kiểm duyệt bởi bất kỳ biến khác? Nếu mối liên kết quan trọng này là đã nghiên cứu, các tổ chức từ thiện sẽ được hưởng lợi bằng cách thiết kế chiến dịch quảng cáo để tăng thái độ hướng tới các tổ chức từ thiện.