CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung đề tài Luận án CBPPVTM và FTA là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình trong và ngoài nước. Vấn đề này đã được nghiên cứu ở những góc độ, cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau.
Tuy nhiên, phần tổng quan nghiên cứu chỉ đề cập tới các công trình khoa học liên quan đến nội dung nghiên cứu của Luận án. Các công trình nghiên cứu được sắp xếp theo các nhóm sau: nghiên cứu chung về FTA và CBPPVTM và nghiên cứu riêng từng biện pháp phòng vệ thương mại. Các công trình nghiên cứu về Hiệp định thương mại tự do và các biện pháp phòng vệ thương mại • Nội dung về Hiệp định thương mại tự do và các biện pháp phòng vẹ thương mại trong Hiệp định thương mại tự do Hiệp định thương mại tự do - một số khái niệm cơ bản [38] do BCT biên soạn; Những điều Doanh nghiệp cần biết về Hiệp định Thương mại Việt Nam – Nhật Bản [4] của BCT (2014); tài liệu công bố tại Hội nghị Phổ biến thông tin về một số Hiệp định thương mại tự do mới ký kết hoặc vừa kết thúc đàm phán [5] do BCT tổ chức (2015); Nhiệm vụ cấp Bộ Hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương [57] do TS. Lê Mai Thanh (2016) làm chủ nhiệm đã phân tích luận giải mục tiêu vai trò và yêu cầu của TPP trong tất cả các lĩnh vực (trong đó có yêu cầu về CBPPVTM).
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU) [21]; Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Hàn Quốc (VKFTA) [19]; Đặc biệt là tác giả Bùi Nguyễn Anh Tuấn trong bài viết Nội dung về phòng vệ thương mại trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TPP) [113] đã nhận diện một số nội dung mới về CBPPVTM so với WTO. 7 • Khái niệm, đặc điểm về các biện pháp phòng vệ thương mại Hầu hết các nghiên cứu xác định khái niệm về CBPPVTM dựa trên mục đích áp dụng của nó. Theo Trade remedies (Biện pháp khắc phục thương mại) [112], các biện pháp khắc phục thương mại hay còn gọi là CBPPVTM bao gồm 03 biện pháp: CBPG, CTC, BPTV; luận văn thạc sỹ Các biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới và các giải pháp pháp lý ngăn ngừa sự tác động đến việc xuất khẩu của Việt Nam [40], Nguyễn Thị Thu Nguyệt (2013) và Đề án Biện pháp phòng vệ chính đáng đối với hàng hóa sản xuất trong nước phù hợp với các qui định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết [3] của Bộ Thương mại (2006) cho rằng: CBPPVTM là tất cả các biện pháp mà Chính phủ sử dụng nhằm hạn chế các dòng mậu dịch giữa lãnh thổ nước này với lãnh thổ nước khác. Cuốn sách Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTA và Cộng đồng kinh tế ASEAN [67] của VCCI (2015) đưa ra khái niệm “CBPPVTM là các biện pháp được sử dụng nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài”.
Quan điểm thể hiện trong cuốn sách chuyên khảo “Pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam) [32] của tác giả Vũ Thị Phương Lan (2012); trong Luận án tiến sỹ Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn) [66] của TS. Nguyễn Quý Trọng (2014); và trong bài tạp chí Khả năng sử dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế dưới khuôn khổ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương [76] của Võ Khắc Thường và Võ Thành Vinh (2014) đều thống nhất về đặc điểm của CBPPVTM là: trong khi biện pháp CBPG và CTC được sử dụng để chống lại các hành vi cạnh tranh không công bằng, thì BPTV được áp dụng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước sự gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu. Khác với biện pháp CBPG và CTC, BPTV không phải công cụ miễn phí bởi nước áp dụng phải bồi thường cho nước bị áp dụng biện pháp này. 8 Bài tham luận Dự kiến những tác động FTA đến các vụ việc phòng vệ thương mại của Việt Nam của tác giả Nguyễn Chi Mai (2015) trong Hội thảo Điều gì cản trở Doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để tự bảo vệ trước hàng hóa nước ngoài [36] chỉ ra nội dung về CBPPVTM tại FTA cho thấy, trên 80% các FTA cho phép sử dụng cơ chế tự vệ song phương.
• Cơ chế áp dụng pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại ở một số nước trên thế giới Cơ chế áp dụng pháp luật về CBPPVTM tại Mỹ và Liên minh Châu Âu (EU) được nhiều công trình nghiên cứu, bởi đây là 2 trong số các nước phát triển sử dụng hiệu quả CBPPVTM. Cuốn sách Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu tại Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn [55], tác giả Nguyễn Ngọc Sơn (2005), Cẩm nang kháng kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp tại Hoa Kỳ , Cẩm nang kháng kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp tại Liên Minh Châu Âu [46] do VCCI biên soạn năm 2010 đã đưa ra kết quả nghiên cứu: Mỹ và EU giao cho cùng 1 cơ quan thực hiện cả 3 biện pháp phòng vệ thương mại. Đặc trưng cơ bản của pháp luật EU về thủ tục điều tra áp dụng CBPPVTM là chỉ có một cơ quan là Ủy Ban Châu Âu điều tra về mức giá bán phá giá/trợ cấp và điều tra thiệt hại. Trong khi Mỹ lại có nhiều cơ quan thẩm quyền liên quan đến việc điều tra và áp dụng CBPPVM.
Cuốn sách Xây dựng mô hình cơ quan quản lý Nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thương mại quốc tế - Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam [34] do TS. Đinh Thị Mỹ Loan (2007) chủ biên chỉ ra Ấn Độ, Phillipin lại tách thành 2 hoặc 3 cơ quan thực hiện CBPPVTM. Cuốn Một số vụ kiện chống bán phá giá tại EU – Trung Quốc [47] của VCCI (2007), luận văn thạc sỹ Pháp luật chống bán phá giá của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam [51] tác giả Hoàng Thị Phượng (2012) kết luận: Trung Quốc là nước có mô hình một cơ quan quản lý chung về CBPPVTM. Trong cuốn sách chuyên khảo “Pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam) [32] Tác giả Vũ Thị Phương 9 Lan (2012) nhận định: cơ quan thực hiện pháp luật về CBPPVTM của Việt Nam là VCA và trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc phòng vệ thương mại của Việt Nam có những điểm tương tự như EU.
Tác giả Mai Xuân Hợi (2016), trong bài tạp chí Địa vị pháp lý của cơ quan điều tra vụ việc phòng vệ thương mại [25] cho rằng, nhiệm vụ, quyền hạn của VCA khá lớn, không đảm bảo tính chuyên trách, dẫn đến công việc không đạt hiệu quả. • Thực trạng áp dụng pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại của một số nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Các nghiên cứu như: Tìm hiểu Luật WTO qua một số vụ kiện chống bán phá giá [9], Cẩm nang kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp tại Liên Minh Châu Âu [46], Cẩm nang kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp tại Hoa Kỳ [48] do VCCI biên soạn năm 2010 đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về các quy định pháp luật, thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật về CBPPVTM tại một số nước phát triển như Mỹ và EU. Ngoài các nước phát triển như EU và Mỹ, các nước đang phát triển cũng tích cực sử dụng công cụ phòng vệ thương là kết quả của các nghiên cứu: The use of Antidumping in Brazil, China, Indian and South African - Rules, Trends and Causes (Việc sử dụng công cụ chống bán phá giá ở Brazil, Trung quốc, Ấn độ và Nam Phi – Các qui tắc, Xu hướng, nguyên nhân [95] của National Broad of Trade of Sweden (2007); Báo cáo Xu hướng sử dụng công cụ phòng vệ thương mại trên thế giới - Bài học cho Việt Nam [35] trong Hội thảo Kiện chống bán phá giá ở Việt Nam - Đánh thức công cụ bị bỏ quên của tác giả Đinh Thị Mỹ Loan (2013), cuốn sách Một số vụ kiện chống bán phá giá tại EU – Trung Quốc [47]. Các bài nghiên cứu trong tài liệu Hội nghị Tổng kết thực thi pháp luật phòng vệ thương mại và đề xuất giải pháp (2016) do BCT tổ chức, các tác giả như Phạm Châu Giang trong Báo cáo tổng kết thực thi pháp luật phòng vệ thương mại của Việt Nam [11], Nguyễn Thu Trang (2016) trong báo cáo Thực thi pháp luật về phòng vệ thương mại - Góc nhìn của Doanh nghiệp [64], Báo cáo tổng kết việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và quản lý nhà nước về ngoại thương (2016) [74], Báo 10 cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Bộ Tư pháp thẩm định Dự thảo Luật quản lý ngoại thương (2016) đều chung quan điểm rằng, sự hiểu biết của DN Việt Nam về CBPPVTM còn hạn chế, pháp luật về CBPPVTM của Việt Nam còn nhiều bất cập, dẫn đến việc sử dụng công cụ này chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật về CBPPVTM cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay cũng như nâng cao khả năng sử dụng công cụ này. Ngoài các nội dung trên, thì vấn đề lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại là hiện tượng rất phổ biến trong thương mại quốc tế. Vì thế, có khá nhiều đề tài khoa học nghiên cứu và đưa ra các hướng giải quyết cho trường hợp lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại như: Anti-Dumping Circumvention in the EU and the US: Is There a Future For Multilateral Provisions Under the WTO (Chống lẩn tránh thuế CBPG ở EU và Mỹ: triển vọng nào cho các quy định đa phương của WTO) [88], tác giả Lucia Ostoni (2005) đã thống kê, phân tích các hiện tượng lẩn tránh thuế CBPG trong thương mại quốc tế; phân tích các quy định về chống lẩn tránh thuế CBPG của EU và Mỹ.