LỜI MỞ ĐẦU Trong những thập kỷ gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ điện tử, sự ra đời của các bộ nhớ có dung lượng lớn, bộ xử lý tốc độ cao cùng với các hệ thống mạng viễn thông. Người ta xây dựng các hệ thống thông tin nhằm tự động hoá mọi hoạt động kinh doanh của mình. Điều này đã tạo ra một dòng dữ liệu tăng lên không ngừng vì ngay từ những giao dịch đơn giản nhất như một cuộc gọi điện thoại, kiểm tra sức khoẻ, sử dụng thẻ tín dụng,v. đều được ghi vào trong máy tính.
Cho đến nay, con số này đã trở lên khổng lồ bao gồm các cơ sở dữ liệu lớn cỡ gigabytes và thậm chí terabytes lưu trữ các dữ liệu kinh doanh ví dụ dữ liệu thông tin khách hàng, dữ liệu lịch sử các giao dịch, dữ liệu bán hàng, dữ liệu các tài khoản, các khoản vay, sử dụng vốn,v. Nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu (CSDL) mạnh với các công cụ phong phú và thuận tiện đã giúp cho con người khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên dữ liệu. Cùng với chức năng khai thác có tính chất tác nghiệp, việc khai thác các CSDL phục vụ các yêu cầu trợ giúp quyết định ngày càng có ý nghĩa quan trọng và là nhu cầu to lớn trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh, quản lý. Dữ liệu được thu thập và dữ liệu ngày càng nhiều nhưng người ra quyết định trong quản lý kinh doanh lại cần những thông tin bổ ích, những “tri thức” rút ra từ những nguồn dữ liệu đó hơn là chính những nguồn dữ liệu đó cho việc ra quyết định của mình.
Các nhu cầu đó đã được biết đến từ lâu nhưng mới thực sự bùng nổ từ thập niên 90. Do đó những năm gần đây đã phát triển mạnh mẽ một loạt các lĩnh vực nghiên cứu về tổ chức các kho dữ liệu và kho thông tin. Các hệ trợ giúp quyết định, các phương pháp phát hiện tri thức và khai phá dữ liệu. Trong đó, khai phá dữ liệu và phát hiện tri thức đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu sôi động thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực như hệ cơ sở dữ liệu, thống kê, chiết xuất thông tin, nhận dạng, học máy, trí tuệ nhân tạo.
Phần lớn các kỹ thuật chính được áp dụng trong lĩnh vực khai phá dữ liệu được kế thừa từ các lĩnh vực trên. Các bài toán chủ yếu trong KPDL là phân lớp/dự đoán, phân cụm, khai phá luật kết hợp, khai phá chuỗi,v. Lĩnh vực này cũng là điểm hội tụ và giao thoa của rất nhiều lĩnh vực khác. KPDL đã và đang được ứng dụng thành công vào thương mại, tài chính và thị trường chứng khoán, sinh học, y học, giáo dục, viễn thông,v.
Luận văn thạc sĩ Công nghệ thông tin_ Nguyễn Thế Vinh lớp K10T3CN 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Áp dụng luật kết hợp cho khai phá dữ liệu cho dữ liệu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Do KPDL là một lĩnh vực rộng lớn nên trong luận văn này chỉ đề cập đến khía cạnh khai phá dữ liệu bằng luật kết hợp dựa trên nền tảng của một số nghiên cứu đã được thực hiện. Luận văn thạc sĩ Công nghệ thông tin_ Nguyễn Thế Vinh lớp K10T3CN 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Áp dụng luật kết hợp cho khai phá dữ liệu cho dữ liệu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam CHƢƠNG 1 KHAI PHÁ DỮ LIỆU VÀ PHÁT HIỆN TRI THỨC 1.1 Khai phá dữ liệu 1.1 Tổng quan về khai phá dữ liệu Hàng nghìn năm nay vấn đề về tổ chức khai thác dữ liệu là vấn đề mà con người phải giải quyết. Đến nay vấn đề này vẫn chưa giải quyết được triệt để. Các chuyên gia trong lĩnh vực khác nhau trong quá trình hoạt động của mình thu thập được một khối lượng kiến thức khổng lồ nhưng tổ chức cơ sở dữ liệu đó thành một hệ thống để phân tích đưa ra những thông tin cần thiết trên cơ sở dữ liệu đã được tập hợp là một vấn đề rất phức tạp.
Các hệ thống tồn tại một cách chồng chéo khiến các thông tin thừa xảy ra nhiều và vấn đề xử lý số liệu lớn và rất phức tạp. Có một nghịch lý là chúng ta thu thập thông tin nhanh hơn rất nhiều việc xử lý thông tin. Cuối thế kỷ 20, phương pháp phân tích số liệu một cách trí tuệ (là phương pháp khai thác thông tin trực tiếp từ dữ liệu thô) đã thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học. Những thử nghiệm đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như phân tích thị trường tài chính, ngân hàng, đánh giá khả năng cho vay, phân tích đánh giá những mạo hiểm trong đầu tư được tiến hành rất nhiều.
Đây là vấn đề đặc biệt khó khi ta có một lượng thông tin khổng lồ. Bài toán cần giải quyết ở đây là phân tích số liệu ra sao? Con người và máy tính sẽ kết hợp với nhau như thế nào, con người sẽ làm những gì và những gì giao cho máy móc. Dự đoán các vấn đề trên trong tương lai là rất khó nhưng quan trong nhất là hiểu được giới hạn con người và giới hạn của các thiết bị máy móc. Theo John Neumal thì số lượng neural của một người là 1020 bit mặc dù chúng ta không sử dụng hết số lượng này.
Một số nhà bác học đã mô phỏng các hành vi nhận dạng của não bộ (ví dụ mạng Hopfield) cho chúng ta khả năng nhận dạng tương tự như não người. Các mẫu đã được huấn luyện để nhận dạng sẽ kích thích ở một vùng đã được xác định trước. Người ta đã tính được rằng nếu một hệ thống được thiết lập từ 1020 Neural thì ghi nhận được 5.1018 mẫu khác nhau bằng 5% số lượng Neural. Đây cũng chính là số lượng mẫu lớn nhất mà con người có thể nhớ được.
Đó là con số khổng lồ mà thiết bị điện tử không có khả năng đạt được. Tuy nhiên, tốc độ của các Neural sinh học quá chậm do với các công nghệ tính toán hiện nay. Vấn đề này có lý do là ở Neural sinh học tốc độ phản Luận văn thạc sĩ Công nghệ thông tin_ Nguyễn Thế Vinh lớp K10T3CN 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Áp dụng luật kết hợp cho khai phá dữ liệu cho dữ liệu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ứng nhỏ hơn Neural nhân tạo 8 lần. Từ hai yếu tố số lượng và tốc độ của Neural ta xác định được khả năng sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong quá trình KDD là quá trình khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu.
Không có một chương trình máy tính nào hiện nay cũng như trong khoảng thời gian sắp tới có thể mô tả được độ phong phú của trí tuệ con người. Tốt nhất chúng ta nên hạn chế các bài toán của con người trong lĩnh vực tổ chức công việc. Máy móc tốt nhất là tập trung vào việc tìm kiếm tri thức mới(các quy luật ẩn dưới khối dữ liệu khổng lồ). Các hệ thống KDD có thể xác định một cách hình tượng là các bộ tăng tốc cho trí tuệ con người.
Ứng dụng của hệ thống KDD yêu cầu phải có nghệ thuật biểu diễn và phương pháp tổ chức các bài toán. Kết quả cuối cùng là lời giải dựa trên những thông tin đã thu thập được. Chìa khóa của vấn đề sử dụng KDD không phải lựa chọn một hoặc vài thuật toán KDD đã biết mà dựa vào việc phân tích dữ liệu bằng tổ hợp các phương pháp. Ta có thể lấy ví dụ trong lĩnh vực y tế.
Đầu thế kỷ 21, loài người đã biết được 105 triệu trứng bệnh, 105 mẫu thuốc. 104 các loại bệnh khác nhau. Rõ ràng nếu không có sự giúp đỡ của KDD thì việc khám phá ra tri thức trong đó là điều không thể đối với bất kỳ chuyên gia nào. Chúng ta có thể coi tri thức như thông tin tích hợp bao gồm các sự việc và những quan hệ của chúng mà ta có thể lĩnh hội, khám phá hoặc học tập.
Nói một cách khác, tri thức có thể là dữ liệu ở mức trìu tượng hoá và khái quát cao.2 Nhiệm vụ chính của khai phá dữ liệu Trong mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh - quản lý thì yếu tốt thành công luôn gắn liền với việc nắm bắt, thống kê và khai thác thông tin hiệu quả. Giờ đây KPDL đã và đang trở thành một trong những hướng nghiên cứu chính của lĩnh vực khoa học máy tính và công nghệ tri thức. Do đó có thể coi mục đích chính của quá trình KPDL là một tả và dự đoán mà các mẫu KPDL phát hiện được đều nhắm vào mục đích này. Để đạt được hai mục đích chính trên, nhiệm vụ chính của KPDL bao gồm: Phân lớp: là việc học một hàm ánh xạ (hay phân loại) từ một mẫu dữ liệu vào một trong số các lớp đã được xác định trước.
Hồi quy: là việc học một hàm ánh xạ từ một mẫu dữ liệu thành một biến dự đoán có giá trị thực. Luận văn thạc sĩ Công nghệ thông tin_ Nguyễn Thế Vinh lớp K10T3CN 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Áp dụng luật kết hợp cho khai phá dữ liệu cho dữ liệu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Phân nhóm: là việc mô tả chung để tìm ra các tập dữ liệu xác định hay các nhóm để mô tả dữ liệu. Các nhóm có thể tách riêng, phân cấp hoặc chồng lên nhau. Có nghĩa là dữ liệu có thể vừa thuộc nhóm này vừa thuộc nhóm kia.
Tóm tắt: liên quan đến các phương pháp tìm kiếm một mô tả cho một tập con dữ liệu. Các kỹ thuật tóm tắt thường được áp dụng cho các phân tích dữ liệu tương tác có tính thăm dò và tạo báo cáo tự động. Mô hình phụ thuộc: là việc tìm kiếm một mô hình mô tả sự phụ thuộc giữa các biến. Các mô hình phụ thuộc tồn tại dưới hai mức: mức cấu trúc của mô hình xác định các biến nào là phụ thuộc cục bộ vào nhau và mức định lượng của một mô hình xác định độ mạnh của sự phụ thuộc theo một thước đo nào đó.
Dò tìm biến đổi và phát hiện độ lệch: tập trung vào khai thác những thay đổi đáng kể nhất trong dữ liệu từ các giá trị chuẩn hoặc được đo trước đó.3 Các dạng dữ liệu có thể khai phá Do KPDL được ứng dụng rộng rãi nên có rất nhiều kiểu dữ liệu khác nhau được chấp nhập trong KPDL.