Đặt vấn đề Ngày nay xã hội ngày càng phát triển về nhiều mặt, các hoạt động về khoa học công nghệ, khoa học máy tính diễn ra nhanh chóng, cùng hòa nhịp độ của sự phát triển ấy của xã hội, thì các ngành công nghiệp, dịch vụ trên toàn thế giới cũng phát triển không hề thua kém, nhưng đằng sau sự phát triển về văn hóa, kinh tế và đời sống thì môi trường phải gánh thêm nhiều tác nhân gây ô nhiễm, một trong số đó chính là rác thải. Theo số liệu thống kê và dự đoán trong trong được đưa ra vào năm 2016 đã thế giới có 2,01 tỷ tấn chất thải rắn được sinh ra, và chưa dừng lại ở đó tỉ lệ này tăng lên 3,4 tỷ tấn vào khoảng những năm 2050[1], được thể hiện ở (Hình 1. Khối lượng thải ra rất lớn, nếu không có chiến lược quản lý sẽ làm ảnh hưởng tác động xấu môi trường làm nguồn nước và ô nhiễm, chất lượng không khí bị giảm ở mức thấp cũng như môi trường đất bị phá hủy, mang lại nhiều hệ lụy về bệnh tật và đã có hơn 40 triệu ca bệnh có các vấn đề do ảnh hưởng của rác thải và 5 triệu người chết mỗi năm, gây suy giảm và kìm hãm sự đi sự phát triển kinh tế.1 Khối lượng rác thải trên toàn thế giới .Nguồn:[1] HVTH: Phạm Thanh Thùy - 1970733 GVHD1: PGS.TS Phạm Vũ Hồng Sơn GVHD2: TS Lê Hoài Long 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ XÂY DỰNG Trên toàn thế giới, chỉ có gần 40% tổng khối lượng được phát thải ra được đưa đi đến địa điểm bãi xử lý rác tập trung bằng hình thức chôn lấp tập trung, có khoảng 19% được thu hồi vật liệu thông qua tái sử dụng và chỉ có 11% được xử lý bằng cách đốt, số rác còn lại khoảng 33% vẫn chưa được xử lý và đổ bừa bãi ra ngoài môi trường[1]. Việc thu gom rác thải phụ thuộc vào sự nghiêm khác về môi trường cũng như chính sách riêng cho mỗi từng quốc gia, nhưng đa số khác biệt của việc thu gom tập trung rác giữa vùng ở nông thôn và vùng ở đô thị, điển hình như khu vực Thái Bình Dương trung bình có khoảng 71% rác thải được thu gom, trong số đó khoảng 77% rác ở các khu vực đô thị, ở vùng nông thôn thì con số này là 45% [1].
Ngành xây dựng không nằm ngoài sự sôi động của phát triển của những ngành công nghiệp chủ đạo khác, ngành xây dựng những đóng góp đáng kể về sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tốc độ phát triển tăng trưởng của ngành xây dựng ngày còn cao, hàng năm rác thải xây dựng phát sinh và được tạo ra lên đến hàng triệu tấn trên toàn thế giới. Mọi hoạt động của việc xây dựng mới hay của việc phá dỡ tạo ra dòng chất thải lớn nhất trên mọi quốc gia trên toàn thế giới, còn số này chiếm 36% tổng lượng các loại chất thải rắn ở Châu Âu, và có đến 60% chất thải rắn do các hoạt động xây dựng được tạo ra ở Hoa Kỳ, con số tỷ 30%–40% chất thải rắn sinh ra tại Trung Quốc[2]. Với mức tỷ lệ tái chế, tái sử dụng lại còn thấp dẫn sự lãng phí về các nguồn vật liệu như cát, đá, gỗ. dẫn đến làm tăng các nguồn khai thác nguồn vật liệu xây dựng làm cho môi trường ngày còn bị ảnh hưởng.
Tại Châu Âu (EU) vào năm 2016 đã đưa ra nhiều luật lệ về một số công tác trong việc quản lý rác thải của ngành công nghiệp xây dựng cho 28 quốc gia ở trung khu vực mục tiêu hướng đến tỷ lệ là 70% rác thải xây dựng được tái chế sử dụng lại trong tổng số lượng rác thải xây dựng[2]. Ở Mỹ, khoảng 136 triệu tấn rác xây dựng được tạo ra trong số đó và chỉ có từ 20% – 30% tổng khối được tái sử dụng, Ở tại nước Anh mỗi năm có khoảng 70 triệu tấn rác xây dựng nhưng cũng chỉ tái chế sử dụng lại chỉ đạt mức từ 10% – 15%[1], còn lại những chất thải được đưa đi đến nơi xử lý hoặc bị vứt bỏ ra môi trường. Tại Việt Nam, theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2011[3] về chất thải rắn, và báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2019[4], mỗi ngày trung bình có đến HVTH: Phạm Thanh Thùy - 1970733 GVHD1: PGS.TS Phạm Vũ Hồng Sơn GVHD2: TS Lê Hoài Long 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ XÂY DỰNG 60 nghìn tấn rác thải rắn được sản sinh ra ở các đô thị. Trong đó lượng rác thải xây dựng chiếm tỷ lệ 10%-12% lượng các rác thải rắn được sinh ra ở khu vực đô thị, với thành phần của rác thải khác nhau như (Biều đồ 1.
Một số khu đô thị có lượng dân cư đông đúc và phát triển cao về kinh tế điển hình như Hà Nội và Hồ Chí Minh thì số loại chất thải và phế phẩm xây dựng ở mức cao hơn so với các đô thị nhỏ hơn trong cả nước và chiếm đến 25% lượng rác thải rắn sinh ra ở đô thị.Ngoài ra ở tại một số tỉnh khác như tỉnh Bắc Giang, Hải Phòng và An Giang thì khối lượng rác xây dựng tỷ chiếm tỉ lệ thấp hơn là 12% – 13% tổng chất thải rắn ở đô thị. Thành phần chất thải xây dựng 2% 1% 2% 5% 36% 23% 31% Đất, cát, sỏi Gạch và khối xây Bê tông Kim loại Nhựa Gỗ Chất khác Biểu đồ 1.1: Thành phần rác thải xây dựng tại Việt Nam Nguồn: [5] Với lượng rác thải của ngành xây dựng ngày còn tăng theo hằng năm, để quản lý được không phải điều dễ thực hiện. Nhà nước cùng với các đoàn thể có thẩm quyền về quản lý rác thải cũng đưa ra những quy định và một số thông tư để hướng dẫn cho một số việc liên quan đến rác thải, đánh giá rác thải như phế liệu, và các rác thải có tính chất nguy hại đến và ảnh hưởng môi trường, cũng như rác thải rắn sản sinh ra từ HVTH: Phạm Thanh Thùy - 1970733 GVHD1: PGS.TS Phạm Vũ Hồng Sơn GVHD2: TS Lê Hoài Long 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ XÂY DỰNG việc sinh hoạt của đời sống hằng ngày cho đến rác thải rắn ở các khu công nghiệp. Đề cử như Nghị định số 38/2015/NĐ-CP[6] và Thông tư 08/2017/TT-BXD[7], có các nội dung được bắt buộc phải thực hiện như nêu rõ như rác thải của ngành xây dựng nếu không tái sử dụng hoặc tái chế bắt buộc phải bằng hình thức thu gom tập kết đến các khu xử lý hợp pháp được cấp phép.
Một những lập luận cho từ các nghiên cứu trước đó đã chứng rằng, việc có kế hoạch không đầy đủ và hoạt động không thường xuyên là những lý do chính khiến đến việc quản lý và kiểm soát nguồn rác thải không có hiệu quả và bị vỡ kế hoạch đề ra [8]. Việc thu thập, quản lý, kiểm soát rác thải xây dựng yếu kém là do nhiều nguyên nhân tạo ra khác nhau chẳng hạn như dân cư quá đông, tổng lượng sản phẩm quốc nội, tốc độ diễn ra quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, và liên quan biện pháp kiểm soát quản lý rác thải xây dựng còn lạc hậu[9]. Công việc kiểm soát và quản lý rác cần nhiều người tham gia rất tốn kém, chi phí dùng cho quá trình quản lý là rất đáng kể. Chi phí cần dùng cho việc thu gom, phân lại và xử lý rác thải có thể là hạng mục phí gây ra thâm hụt ngân sách ở nhiều địa phương, có nơi nó chiếm gần 20% tổng chi phí ngân sách.
Ở những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp hoặc ở mức trung bình thì chi phí ngân sách bị chiếm hơn 10% cho các việc xử lý rác, và có số này chiếm 4% ngân sách ở các nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn[1]. Như chúng ta đã thấy những ảnh hưởng của rác thải xây dựng với môi trường là rất lớn do những hoạt động khác nhau, trong đó tác động chính dễ dàng nhìn thấy là quỹ đất dùng cho việc để chứa và bãi chôn lấp rác thải và chi phí dùng cho việc xử lý là không hề nhỏ. Ví dụ như hàng năm chính phủ Hồng Kông tốn hơn 200 triệu đô la Hồng Kông[10] cho công tác làm bãi chôn lấp và xử lý rác thải. Để quản lý được lượng rác thải xây dựng rất phức tạp vì rác thải xây dựng có thể sinh ra bất kỳ lúc nào, từ những công việc xây dựng mới hay đập phá những công trình cũ, và thiên tai cũng là một tác nhân.
Không kiểm soát và ước tính được lượng rác thải xây dựng trung bình và có thể phát sinh thì dễ xảy ra một số công việc kế hoạch và rác thải xây dựng sẽ được xử lý triệt để. Nếu không có kế hoạch hoặc ước lượng cụ thể thì vấn đề về ô nhiễm môi trường bị sẽ xảy ra là chuyện đương nhiên, và tình trạng nhà máy xử lý bị quá tải, các thiết bị phục vụ dùng để chuyên chở và HVTH: Phạm Thanh Thùy - 1970733 GVHD1: PGS.TS Phạm Vũ Hồng Sơn GVHD2: TS Lê Hoài Long 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN LÝ XÂY DỰNG các thiết bị xử lý rác bị quá công suất hoạt động, cho nên chi phí xử lý bị tăng lên các kế hoạch và định hướng của dự án bị phá vỡ. Nhà thầu xây dựng khó thể ước lượng chính xác được khối lượng rác thải xây dựng, chi phí xử lý có thể sẽ tăng lên và ảnh hưởng không hề nhỏ đến ngân sách cũng như thời gian hoàn thành của dự án. Việc ước lượng rác thải xây dựng được xác định bằng các quá trình so sánh với các công trình đã phá dỡ tương tự, sử dụng các dự đoán của phương này thì khó ước lượng được vì phương pháp không được chắc chắn và cho hiệu quả không cao[11].
Các nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định rằng việc dựa trên các hóa đơn khối lượng các vật liệu của công trình liên quan về rác thải xây dựng trong lúc thi công của công trình, để dự đoán khối lượng rác thải xây dựng thì thực tế khối lượng sau khi phá dỡ tăng từ 15 lần đến 20 lần so với dự đoán ban đầu trong quá trình thi công[12]. Việc dự báo chính xác lượng chất thải xây dựng là rất quan trọng và cần thiết và là một trong những điều kiện hàng đầu để có được sự thành công cho cả hệ thống quản lý rác thải xây dựng.