Chương 1. Rừng ngập mặn 1. Trên Thế giới Tổng diện tích rừng ngập mặn năm 2000 là 137.760 km2 ở 118 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới trên Thế Giới. Khoảng 75% rừng ngập mặn trên Thế Giới chỉ được tìm thấy ở 15 quốc gia và chỉ 6,9 được bảo vệ trong mạng lưới các khu bảo tồn hiện có (IUCN I-IV).
Phân bố địa lý sinh học của rừng ngập mặn nói chung chỉ giới hạn ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, tỷ lệ rừng ngập mặn lớn nhất được tìm thấy trong khoảng vĩ độ 5 ° Bắc đến 5 ° Nam. Diện tích rừng ngập mặn lớn nhất được tìm thấy ở Châu Á (42 ), sau đó là Châu Phi (20%), Bắc và Trung Mỹ (15 ), Châu Đại Dương (12 ) và Nam Mỹ (11%). Khoảng 75% diện tích rừng ngập mặn chỉ tập trung ở 15 quốc gia Indonesia, Australia, Brazil, Mexico, Nigeria, Malaysia, Myanmar (Burma), Papua New Guinea, Bangladesh, Cuba, India, Guinea Bissau, Mozambique, Madagascar, Philippines [4]. gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf 1.
Ở Việt Nam Rừng ngập mặn chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích rừng của cả nước với 14,4 triệu ha, chúng đóng vai trò rất quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ bờ biển, đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu. Hệ thực vật Rừng ngập mặn Việt Nam có 36 loài cây ngập mặn thực thụ thuộc 20 chi và 14 họ với 77 loài thực vật tham gia [5]. Diện tích rừng ngập mặn tại Việt Nam năm 1943 đến 2000 đã giảm từ 408.290 ha do nhiều nguyên nhân [5]. Mặc dù các tác động trên vẫn còn, nhưng đã có nhiều nỗ lực phục hồi rừng ngập mặn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), hiện nay cả nước chỉ còn khoảng trên 209.741 ha tập trung chủ yếu ở vùng ven biển Nam Bộ (128. Trong giai đoạn 2000-2017, diện tích rừng ngập mặn đã tăng thêm 164. Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 78% diện tích rừng ngập mặn toàn quốc, là nơi có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất, kế tiếp là vùng ven biển Đông Bắc (13%) fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 5 và Đồng bằng sông Hồng (6%). Diện tích rừng ngập mặn ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích rừng ngập mặn của cả nước [7].
Trong số 63 tỉnh thành trên toàn quốc, có 28 tỉnh thành có rừng ngập mặn phân bố. Theo số liệu năm 2017, 9 tỉnh có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất là Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Trà Vinh, Đồng Nai, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Thái Bình chiếm đến 93% tổng diện tích rừng ngập mặn của Việt Nam [7]. Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng (2004) và Luật Lâm nghiệp (2017) quy định phân loại rừng thành ba loại chính theo mục đích quản lý là: rừng đặc dụng (vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên), rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển và bảo vệ môi trường) và rừng sản xuất. Trong tổng diện tích rừng ngập mặn, rừng ngập mặn phòng hộ chiếm diện tích lớn nhất: 106.414 ha tức là 73% tổng diện tích rừng ngập mặn của cả nước; kế tiếp là rừng ngập mặn sản xuất (chiếm khoảng 13%) và rừng ngập mặn đặc dụng (chiếm 9%).
Rừng đặc dụng và phòng hộ thường là sở hữu nhà nước và được quản lý thông qua các ban quản lý rừng hoặc gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf Uỷ ban Nhân dân các xã [8]. Các chi cây ngập mặn ưu thế gồm chi Đước (Rhizophora), chi Trang (Kandelia) và chi Mắm (Avicennia). Các loài thuộc chi Đước phân bố tự nhiên rộng khắp ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng chỉ phân bố rải rác ở các vùng sinh thái khác của Việt Nam. Các loài thuộc chi Trang phân bố tương đối phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, nhất là ở vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng.
Các loài thuộc chi Mắm gồm bốn loài và có phân bố tự nhiên ở hầu hết các vùng ven biển Việt Nam [2]. Rừng ngập mặn nước ta chia thành 4 khu vực (Phan Nguyên Hồng, 1993): - Khu vực I: Từ mũi Ngọc (Móng Cái) đến mũi Đồ Sơn, ven biển Đông Bắc. Ở đây có đảo che chắn, dòng chảy mạnh, các sông có độ dốc cao, rừng ngập mặn kém phát triển. - Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường (Thanh Hóa) chủ yếu là rừng trồng để bảo vệ đê biển, đây là vùng bồi tụ của hệ thống sông Hồng, không có đảo che chắn, nhiều sóng gió, độ mặn thay đổi nhiều.000 ha rừng ngập mặn.
fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 6 - Khu vực III: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường Đồ Sơn đến mũi Vũng Tàu; Khu vực này có nhiều bão, ít rừng ngập mặn ở cửa sông trong các đầm phá. - Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải (Hà Tiên). Khu vực giàu phù sa, ít sóng gió nên rừng ngập mặn phát triển tốt, cây cao 20 m – 30 m [2]. Đặc điểm tự nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ 1.
Đặc điểm tự nhiên rừng ngập mặn Cần Giờ 1.1 Vị trí địa lí Rừng ngập mặn Cần Giờ cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 60 km và có tọa độ từ 106º46’12” đến 107º00’59” Kinh độ Đông và từ 10º22’14” đến 10º40’09” vĩ độ Bắc. gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf Hình 1. Khu Dự trữ Sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ [9] Ranh giới được xác định như sau: - Phía Bắc giáp huyện Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh); - Phía Nam giáp biển Đông; - Phía Đông giáp biển Đông; - Phía Tây giáp huyện Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh); huyện Cần Giuộc (tỉnh Long An), huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang) – Ranh giới là sông Soài fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 7 Rạp. Rừng Cần Giờ có chức năng chính là phòng hộ, có vị trí quan trọng về quốc phòng nhưng đồng thời cũng mở ra triển vọng to lớn về du lịch sinh thái.
Do tính năng quan trọng của rừng phòng hộ Cần Giờ, năm 2000, Rừng ngập mặn Cần Giờ được tổ chức UNESCO công nhận là “Khu Dự trữ Sinh quyển” [10]. Phần lớn hệ thực vật Rừng ngập mặn nguyên sinh rất phong phú trước đây đều đã bị tàn phá trong chiến tranh và sau đó là tình trạng chuyển rừng sang làm nông nghiệp và nuôi tôm. Thảm thực vật rừng hiện tại chủ yếu là rừng phục hồi tự nhiên và một phần rừng trồng. Hiện nay, thông tin về nguồn tài nguyên thực vật của Khu Dự trữ Sinh quyển còn rất ít [11].2 Diện tích Tổng diện tích 75.740 ha bao gồm 4.339 ha vùng đệm, 29.310 ha vùng chuyển tiếp [11].3 Khí hậu Huyện Cần Giờ có khí hậu nóng ẩm, chịu sự chi phối của gió mùa cận xích gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf đạo, có 2 mùa rõ rệt với mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau [11].
Số giờ nắng - chiếu sáng Huyện Cần Giờ có số giờ chiếu sáng cao và phân bố đều suốt cả năm. Cụ thể: Tổng số giờ chiếu sáng từ 2.710 giờ/năm với mùa khô 240 giờ/tháng, cao nhất là tháng 3 với 276,3 giờ, mùa mưa đạt hơn 170 giờ/tháng, thấp nhất tháng 9 với 169 giờ/tháng. Biên độ dao động số giờ chiếu sáng trung bình từ 5,7 – 8,7 giờ/ngày.Tổng số giờ chiếu sáng trong năm là 2. Nhiệt độ không khí Nhiệt độ trung bình năm 28,5oC dao động từ 27oC - 30oC, chế độ nhiệt cao và khá ổn định.
Nhiệt độ trung bình cao nhất rơi vào tháng 3, 4, 5 và thấp nhất vào tháng 1, tháng 2. Biên độ nhiệt trong ngày dao động từ 50C – 7oC [11]. Lượng mưa Huyện Cần Giờ có lượng mưa thấp nhất trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, không ổn định theo thời gian và phân bố không đều theo không gian. Mùa fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 8 khô có lượng mưa trung bình khoảng 150 mm/tháng và 90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 [11].
Gió Huyện Cần Giờ có 2 mùa nắng mưa rõ rệt vào mỗi năm và chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Vùng ven biển Cần Giờ có những biến đổi dị thường về chế độ thủy văn do vùng này nhô ra phía biển chịu ảnh hưởng mạnh của gió chướng. Gió mùa Đông Nam xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với tốc độ trung bình 1 m/s – 3 m/s. Hướng gió Đông Nam đã góp phần đưa nước mặn từ biển vào các sông rạch trong các tháng mùa khô và tác động thẳng góc vào mũi Cần Giờ làm vùng này bị xói lở mạnh (từ tháng 2 đến tháng 4) [11].4 Chế độ thủy triều Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trong vùng có chế độ bán nhật triều không đều.
Biên độ triều khoảng 2 m khi triều trung bình và 4 m khi triều cường. Biên độ triều có xu hướng giảm dần từ phía Nam lên phía Bắc. Hai đỉnh triều thường bằng nhau nhưng hai chân triều lệch nhau. gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf Theo âm lịch, hai ngày có thủy triều thấp nhất trong tháng là ngày 8 và ngày 25 âm lịch, vào các ngày 29, 30, 1, 2, 3 và các ngày 14, 15, 16, 17, 18, mỗi ngày có 2 con nước lớn ngập toàn bộ rừng ngập mặn khi triều cường.
Thủy triều và địa hình ảnh hưởng tới độ mặn của khu vực nghiên cứu gây nên sự khác nhau của phân bố cây ngập mặn [11].