CHƯƠNG 1: Bài toán tìm kiếm thông tin và các phương pháp biểu diễn văn bản: Trình bày tổng quan về bài toán tìm kiếm thông tin và các phương pháp biểu diễn văn bản phục vụ tìm kiếm, tìm kiếm thông tin. - CHƯƠNG 2: Ứng dụng biểu diễn văn bản bằng mạng nơ-ron sâu trong tìm kiếm văn bản pháp quy: Giới thiệu về bài toán tìm kiếm văn bản pháp quy, trình bày phương pháp biểu diễn văn bản sử dụng mạng nơ-ron sâu. - CHƯƠNG 3: Thử nghiệm và đánh giá: Mô tả quá trình xây dựng bộ dữ liệu và so sánh, đánh giá hiệu quả của mô hình đề xuất so với các phương pháp khác. Các kết quả của luận văn đã được chấp nhận công bố tại hội nghị COLING 2020, hội nghị hạng A về xử lý ngôn ngữ tự nhiên.
BÀI TOÁN TÌM KIẾM THÔNG TIN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP BIỂU DIỄN VĂN BẢN Chương này sẽ trình bày tổng quan về bài toán tìm kiếm thông tin nói chung và bài toán tìm kiếm văn bản pháp quy nói riêng, bao gồm khái niệm, kiến trúc hệ thống và mô hình tìm kiếm thông tin, cùng với các phương pháp biểu diễn văn bản phục vụ tìm kiếm. Bài toán tìm kiếm thông tin 1. Tìm kiếm văn bản quy phạm pháp luật Theo Bing Liu, tìm kiếm thông tin hay truy vấn thông tin (Information Retrieval – IR) là lĩnh vực nghiên cứu nhằm giúp người dùng tìm kiếm thông tin phù hợp với thông tin mình cần [15]. Theo Manning, tìm kiếm thông tin là việc tìm các tài liệu ở dạng phi cấu trúc (thường là văn bản) thỏa mãn một thông tin cần thiết trong một tập hợp dữ liệu lớn (thường được lưu trên máy tính) [18].
IR nghiên cứu cách thu thập, tổ chức, lưu trữ truy xuất và phân tán thông tin. Việc biểu diễn và tổ chức thông tin phải được thực hiện theo cách mà người dùng có thể truy cập được thông tin đáp ứng nhu cầu của mình. Bài toán tìm kiếm thông tin Input: - Một tập tài liệu lớn, ổn định. - Một nhu cầu thông tin thể hiện dưới dạng câu truy vấn (các từ khoá hoặc câu hỏi).
Output: - Tìm tất cả tài liệu có liên quan đến câu truy vấn. 4 Trong đó, tài liệu ổn định ở đây có thể hiểu là tài liệu mà thao tác xóa, chỉnh sửa hoặc thêm mới trên nó ít khi xảy ra. Những vấn đề cần giải quyết của bài toán tìm kiếm thông tin - Biểu diễn tập tài liệu như thế nào? - Biểu diễn nhu cầu thông tin của người dùng như thế nào? - Bằng cách nào hệ thống có thể trả về những tài liệu có liên quan đến nhu cầu thông tin một cách có hiệu quả? - Kết quả trả về được trình bày như thế nào? Bài toán tìm kiếm văn bản pháp quy Văn bản quy phạm pháp luật hay còn gọi là Văn bản pháp quy là một hình thức pháp luật thành văn được thể hiện qua các văn bản chứa được các quy phạm pháp luật do cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 của Việt Nam thì Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định.
Trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Văn bản pháp quy có đặc điểm là thường dài, cấu trúc phức tạp, chia thành nhiều chương, điều, khoản… Một văn bản pháp luật thường có thể dài tới 15-20 trang hoặc thậm chí nhiều hơn. Một vụ việc có thể liên quan đến nhiều văn bản khác nhau. Các luật sư, nhân viên pháp lý.
phải đọc rất nhiều văn bản và so sánh các điều, khoản trong đó với trường hợp đang xử lý. Việc này tốn rất nhiều thời gian, do vậy, nếu có một hệ thống giúp tìm kiếm và đưa ra được các điều khoản liên quan tới vụ việc đang xử lý sẽ giúp ích rất nhiều. Bài toán được phát biểu như sau: - Đầu vào: Truy vấn của người dùng dưới dạng một câu hỏi. - Đầu ra: Các điều khoản có liên quan, giúp trả lời được cho câu hỏi của người dùng.
5 Ví dụ minh họa đầu vào và đầu ra của bài toán được mô tả bằng bảng bên dưới: Ví dụ minh họa bài toán tìm kiếm văn bản pháp quy. Câu hỏi đầu vào Con riêng có quyền hưởng thừa kế của bố đã mất không di chúc không? Đầu ra Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 Nội dung điều luật Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Hệ thống tìm kiếm và tìm kiếm thông tin Hoạt động của một hệ thống tìm kiếm thông tin được mô tả trong Hình 1.1, bao gồm ba bước chính: biểu diễn văn bản, biểu diễn truy vấn và so khớp – đánh giá độ liên quan giữa văn bản và truy vấn. Kiến trúc tổng quan của hệ thống tìm kiếm thông tin.
Truy vấn của người dùng thể hiện thông tin mà người đó cần, có thể thuộc một trong các dạng sau [15]: - Truy vấn dạng từ khóa (Keyword queries): Người dùng thể hiện thông tin mình cần bằng một danh sách (ít nhất một) các từ khóa với mục đích tìm các tài liệu chứa một vài (ít nhất một) hoặc tất cả các từ khóa đó. - Truy vấn dạng Boolean (Boolean queries): Người dùng có thể dùng các toán tử Boolean AND, OR và NOT để tạo các truy vấn phức tạp. Truy vấn sẽ bao gồm các từ khóa và các toán tử Boolean. - Truy vấn dạng cụm từ (Phrase queries): Truy vấn gồm một chuỗi các từ tạo thành một cụm từ.
Các tài liệu trả về phải chứa cả cụm từ đó. - Truy vấn gần (Proximity queries): Là một phiên bản thoải mái hơn của truy vấn dạng cụm từ. Nó tìm kiếm các từ khóa trong truy vấn nằm gần nhau trong các tài liệu. Độ gần (closeness) được dùng như một yếu tố để xếp hạng các tài liệu trả về.
7 - Truy vấn dạng tài liệu (Full document queries): Khi truy vấn là toàn bộ một văn bản, người dùng muốn tìm những văn bản khác tương tự như văn bản trong truy vấn. - Câu hỏi bằng ngôn ngữ tự nhiên (Natural language question): Người dùng thể hiện thông tin cần thiết dưới dạng một câu hỏi bằng ngôn ngữ tự nhiên, sau đó hệ thống tìm câu trả lời. Đây là trường hợp phức tạp nhất và cũng là lý tưởng nhất. Mô hình tìm kiếm thông tin (Information Retrieval Model - IRM) quyết định tài liệu và truy vấn được biểu diễn như thế nào, cách xác định sự liên quan giữa một tài liệu với truy vấn của người dùng.
Đây là thành phần quan trọng nhất trong hệ thống IR. Mô hình tìm kiếm thông tin có thể được định nghĩa như sau [6]: 𝐼𝑅𝑀 = {𝐷, 𝑄, 𝐹, 𝑅(𝑞𝑘 , 𝑑𝑗 )} Trong đó: - D (Document collection): Là tập hợp biểu diễn của các tài liệu. - Q (Query collection): Là tập hợp biểu diễn các thông tin người dùng cần, còn được gọi là các truy vấn. - F (Framework): Là phương pháp mô hình hóa việc biểu diễn tài liệu, truy vấn và mối quan hệ giữa chúng.
- R (Ranking function): Là hàm gán một số thực cho biểu diễn 𝑑𝑗 của tài liệu 𝑗 để thể hiện mức độ liên quan của nó với truy vấn 𝑞𝑘. Việc biểu diễn văn bản và truy vấn đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả tìm kiếm của hệ thống. Phương pháp biểu diễn tốt cần trích xuất, sau đó chọn ra được các thông tin cần thiết để so khớp văn bản với truy vấn. Các phương pháp có thể dùng để biểu diễn văn bản bao gồm: biểu diễn sử dụng từ khóa, biểu diễn sử dụng chủ đề ẩn, biểu diễn sử dụng véc-tơ từ, biểu diễn sử dụng mạng nơ-ron sâu.
Từng phương pháp sẽ được trình bày cụ thể trong các mục phía sau. 8 Sau khi có biểu diễn của câu truy vấn và các văn bản, hệ thống sẽ thực hiện quá trình so khớp, tính độ liên quan giữa các văn bản với truy vấn. Độ liên quan có thể được tính thông qua các hàm khoảng cách như Euclid, Cosine, hàm tích vô hướng hoặc thông qua một mạng nơ-ron. Các văn bản sẽ được xếp hạng dựa trên độ liên quan tới truy vấn và trả về cho người dùng.
Biểu diễn văn bản sử dụng từ khóa 1. TF-IDF Term Frequency – Inverse Document Frequency (TF-IDF), là một thống kê số học phản ánh tầm quan trong của một từ (word) với một văn bản (document) trong tập các văn bản (corpus). Nó thường được dùng để làm trọng số trong việc thu thập thông tin và khai phá văn bản. Giá trị của TF-IDF tỉ lệ thuận với số lần xuất hiện của từ đó trong văn bản, tuy nhiên nó bị bù trừ bởi tần suất của nó trong tập tất cả các văn bản (corpus).
Việc đó giúp loại bỏ những trường hợp mà một từ là từ phổ biến nhưng lại vô nghĩa ví dụ như các từ “thì”, “là”, “mà” (người ta gọi những từ này là các từ dừng - stopwords). TF-IDF là sự kết hợp của hai thống kê cục bộ - tổng quát là: tần suất của từ (term frequency – cục bộ) và tần suất nghịch đảo văn bản (inverse document frequency – tổng quát). Các tham số trong TF-IDF: - Term frequency: Tần số xuất hiện - Inverse document frequency: Tần số nghịch đảo văn bản - Document Length: Độ dài văn bản Tần số xuất hiện Yếu tố này đánh giá tần suất xuất hiện của từ trong văn bản. Càng xuất hiện nhiều, độ liên quan càng cao.