Chương 1 tổng quan tình hình phát triển các công nghệ lò phản ứng khí nhiệt độ cao trên thế giới, Chương 2 tìm hiểu lò phản ứng HTTR và chương trình Serpent 2, Chương 3 xây dựng mô hình tính toán HTTR dùng Serpent 2, Chương 4 trình bày về các kết quả và thảo luận, sau đó là Kết luận và Tài liệu tham khảo. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG NGHỆ LÒ PHẢN ỨNG KHÍ NHIỆT ĐỘ CAO TRÊN THẾ GIỚI Trong thế kỷ 20, việc phát hiện ra năng lượng hạt nhân (NLHN) đã cung cấp cho con người một nguồn năng lượng gần như vô tận. Trong sự phát triển của điện năng, sự tạo ra NLHN và giá trị tiềm ẩn của NLHN là vô cùng to lớn. Ngoài việc được dùng để tạo ra điện, NLHN còn được sử dụng rộng rãi trong việc sưởi ấm, sản xuất hydro, khử mặn nước biển và các lĩnh vực khác.
Nhưng đáng tiếc là mặc dù trên lý thuyết ĐHN có thể giải quyết được vấn đề năng lượng của con người, nhưng tính an toàn, vấn đề quản lý chất thải phóng xạ cùng giá thành cao đã và đang cản trở sự phát triển nhanh chóng của ĐHN. Kể từ khi NLHN được sử dụng vì mục đích hòa bình, việc phát triển ĐHN đã được đặt lên hàng đầu. Sau các sự cố nhà máy ĐHN Fukushima ở Nhật Bản, Chernobyl ở Liên Xô cũ và Three Mile Island ở Hoa Kỳ có thể thấy con người đang cần gấp những lò phản ứng hạt nhân tiên tiến và an toàn hơn. Sau quá trình khai thác và cải tiến liên tục, các nhà phát triển đã đề xuất các lò phản ứng hạt nhân tiên tiến hơn, như ABWR, AP1000, EPR, VVER-1200, … và độ an toàn của chúng đã được cải thiện rất nhiều.
Tuy nhiên, với việc nâng cao mức độ an toàn, chi phí xây dựng các lò phản ứng hạt nhân cũng tăng chưa từng thấy, do đó việc giảm chi phí xây dựng cũng đã trở thành một vấn đề được quan tâm chú trọng. Trong bối cảnh đó, các công nghệ lò phản ứng hạt nhân làm mát bằng khí (carbon dioxide, heli, v. HTGR còn được gọi là lò phản ứng nhiệt độ rất cao (VHTR: Very High Temperature Reactor), là loại lò phản ứng hạt nhân thế hệ thứ IV có thể hoạt động ở nhiệt độ rất cao lên đến cỡ 1000°C và được làm mát bằng khí, làm chậm neutron bằng than chì (graphite) với phổ năng lượng neutron nhiệt (Hình 1. Thiết kế HTGR đầu tiên được đề xuất tại các phòng thí nghiệm Clinton (nay là Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge, ORNL) vào năm 1947.
Đức cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển HTGR trong thập kỷ tiếp theo. Lò phản ứng Peach Bottom ở Hoa Kỳ (US) là HTGR đầu tiên sản xuất điện năng, hoạt động từ năm 1966 đến năm 1974 như một nhà máy trình diễn 9 với công suất nhiệt 150 MWth. Nhà máy Fort St. Vrain (FSV) là thiết kế điện thương mại đầu tiên, hoạt động từ năm 1979 đến năm 1989 với công suất nhiệt 842 MWth.
Mặc dù lò phản ứng này gặp các vấn đề về vận hành dẫn đến việc ngừng hoạt động do các yếu tố kinh tế, nhưng FSV vẫn là bằng chứng cho khái niệm HTGR ở Hoa Kỳ. HTGR cũng đã được phát triển ở Vương quốc Anh (lò phản ứng Dragon) và Đức (AVR: Arbeitsgemeinschaft Versuchsreaktor; và THTR-300: Thorium Hochtemperatur Reaktor); và hiện đang được nghiên cứu, phát triển ở Nhật Bản (HTTR sử dụng nhiên liệu dạng lăng trụ với công suất nhiệt 30 MWth) và Trung Quốc (HTR-10, thiết kế pebble bed (dạng “đá cuội” hay khối cầu) với công suất điện 10 MWe). Gần đây nhất vào ngày 20/12/2021, hai mô đun lò phản ứng trình diễn HTR-PM kiểu pebble bed (High Temperature Gas-Cooled Reactor - Pebble-bed Module) ở Vịnh Shidao, Sơn Đông, Trung Quốc (Hình 1.2) đã lần đầu tiên được kết nối với lưới điện [8]. Mỗi mô đun HTR-PM có công suất nhiệt 250 MWth và hai mô đun HTR-PM được kết nối với một tuabin hơi nước để cung cấp công suất điện 210 MWe.
Trong khi đó, Dự án Nhà máy Hạt nhân Thế hệ Tiếp theo (NGNP: Next Generation Nuclear Plant) [9] của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE: Department of Energy) và thiết kế lò phản ứng siêu nhỏ kiểu mô đun MMR (Micro Modular Reactor) [10] của Công ty USNC (Ultra Safe Nuclear Corporation), Hoa Kỳ đại diện cho các hoạt động phát triển quan trọng gần đây đối với công nghệ lò phản ứng HTGR ở Hoa Kỳ. VHTR có hai cấu hình lò phản ứng điển hình: (1) kiểu khối lăng trụ như thiết kế HTTR của Nhật và GTMHR trước đó của General Atomics và các lò khác ở Nga; (2) kiểu pebble bed như HTR-10 hoặc HTR-PM của Trung Quốc và PBMR (Pebble Bed Modular Reactor) trước đây ở Nam Phi (Hình 1. Mặc dù hình dạng của phần tử nhiên liệu cho hai cấu hình là khác nhau, nhưng nền tảng kỹ thuật cho cả hai cấu hình đều giống nhau, chẳng hạn như nhiên liệu dạng hạt TRISO (TRistructural ISOtropic) (Hình 1.4) trong ma trận graphite, cấu trúc vùng hoạt lò phản ứng hoàn toàn bằng các vật liệu chịu nhiệt độ cao như gốm và graphite, chất làm mát heli và mật độ năng lượng thấp; nhằm đạt được nhiệt độ đầu ra cao và duy trì sự phân hạch bên trong nhiên liệu TRISO trong các điều kiện vận hành của lò phản ứng. VHTR có thể hỗ trợ các chu trình nhiên liệu thay thế như U-Pu, Pu, ô xít hỗn hợp MOX, U-Th.
Sơ đồ lò phản ứng VHTR [1] Hình 1. Địa điểm xây dựng HTR-PM tại Vịnh Shidao, Trung Quốc [8] 11 Hình 1. Các cấu trúc nhiên liệu dạng lăng trụ (prismatic) và dạng cầu (pebble) của VHTR (Nguồn: Internet) Để phát điện, hệ thống tuabin khí heli có thể được đặt trực tiếp trong vòng làm mát sơ cấp, được gọi là chu trình trực tiếp; hoặc ở phía cuối của dải nhiệt độ đầu ra, một bình sinh hơi có thể được sử dụng với chu trình Rankine thông thường. Đối với các ứng dụng nhiệt hạt nhân như nhiệt quá trình cho các nhà máy lọc dầu, hóa dầu, luyện kim và sản xuất hydro, quá trình ứng dụng nhiệt thường được kết hợp với lò phản ứng thông qua bộ trao đổi nhiệt trung gian (IHX: Intermediate Heat Exchanger), được gọi là chu trình gián tiếp.
Nền tảng kỹ thuật cho VHTR là nhiên liệu TRISO, graphite làm cấu trúc vùng hoạt lò phản ứng, chất làm mát heli, cũng như bố trí vùng hoạt lò phản ứng chuyên dụng và mật độ công suất thấp để loại bỏ nhiệt phân rã một cách tự nhiên. Nhiên liệu ở dạng hạt TRISO (Hình 1.4) có đường kính nhỏ hơn một milimét. Mỗi hạt có một nhân (kernel) (đường kính khoảng 0.5 mm) UCO 12 (uranium oxycarbide) hoặc UO2 (uranium dioxide), với urani được làm giàu có thể lên tới 20% U-235, mặc dù thông thường thấp hơn. Phần nhân này được bao quanh bởi các lớp cacbon và silicon carbide, tạo ra một lớp giam giữ các sản phẩm phân hạch ổn định với nhiệt độ cao tới khoảng 1600°C.
Các hạt TRISO được kết hợp lại trong các viên pebble dạng cầu cỡ quả bóng bi-a, hoặc trong các khối graphite dạng lăng trụ (Hình 1. VHTR có độ sâu cháy nhiên liệu cao (100-200 GWd/t), hiệu suất nhiệt cao, khả năng ứng dụng nhiệt quá trình, an toàn thụ động hoàn toàn, tính mô-đun, các chi phí vận hành và bảo trì thấp, và độ linh hoạt trong xây dựng ngày càng tăng. Cấu trúc của viên nhiên liệu TRISO (Nguồn: Internet) Lò phản ứng làm mát bằng khí đã được đề xuất lần đầu tiên là vào năm 1942, năm mà cấu hình hạt nhân đầu tiên (CP-1) đạt tới trạng thái tới hạn. Vào giữa những năm 1940, thiết kế của một lò phản ứng năng lượng làm mát bằng khí heli được đề xuất như trình bày ở trên.
Trong thiết kế này, các đặc điểm cơ bản của lò phản ứng làm mát bằng khí nhiệt độ cao tiên tiến đã được thiết lập, đó là việc sử dụng khí heli làm chất làm mát trong hệ thống sơ cấp tuabin khí chu trình trực tiếp, việc lựa chọn graphite làm vật liệu làm chậm neutron và cấu trúc lò phản ứng, và lựa chọn cacbua urani (uranium carbide) và thori cacbua (thorium carbide) tương ứng là vật liệu fissile (dễ phân hạch) và vật liệu tái sinh (fertile) trong chu trình nhiên liệu 235U/ Th /233U. Khái niệm này đã được sửa đổi cập nhật vào giữa những năm 1950 ở Vương quốc Anh. HTGR được kỳ vọng sẽ có những ưu điểm sau so với các lò phản ứng 13 làm mát bằng khí khác mà đại diện là lò phản ứng Magnox. HTGR có thể giảm được kích thước vì mật độ công suất nhiệt cao như một lò phản ứng làm mát bằng khí.
HTGR có hiệu suất nhiệt cao do nhiệt độ chất làm mát đầu ra cao. Từ các đặc điểm trên, tính kinh tế vượt trội của HTGR có thể được kỳ vọng. Ngoài việc phát điện, HTGR có thể được sử dụng như một nguồn nhiệt cho các quá trình ứng dụng nhiệt khác nhau. Vào thời điểm đó, tính an toàn nội tại cao của HTGR không được nhấn mạnh như lý do để chọn một lò phản ứng, nhưng tính kinh tế cao hơn được kỳ vọng vì chưa có tai nạn hạt nhân nghiêm trọng nào xảy ra.
Nói chung, rất khó để tăng nhiệt độ lớp vỏ bọc nhiên liệu trên 650°C đối với lò phản ứng với nhiên liệu sử dụng vỏ bọc kim loại như lò phản ứng nước nhẹ (LWR: Light Water Reactor) và lò phản ứng nhanh. Do đó, rất khó để làm nóng nhiệt độ chất làm mát đầu ra của lò phản ứng trên 600°C. Để tách nhiệt ở nhiệt độ cao từ lò phản ứng hạt nhân, cần phải phát triển một loại vật liệu làm vỏ bọc nhiên liệu, có chức năng chứa nhiên liệu và ngăn chặn sự giải phóng các sản phẩm phân hạch và chịu được nhiệt độ cao trên 650°C. Năm 1956, viên nhiên liệu được bọc ngoài (CFP: Coated Fuel Particle) đã được phát triển bởi phòng thí nghiệm Harwell ở Vương quốc Anh để giải quyết vấn đề này.
Với sự phát triển của CFP, Dự án Dragon đã được phòng thí nghiệm Harwell đề xuất với Cơ quan Hạt nhân Châu Âu (European Nuclear Agency) vào năm 1958. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD: Organisation for Economic Co-operation and Development) đã chấp nhận đề xuất này và thiết lập một chương trình trong đó 12 quốc gia châu Âu hợp tác phát triển công nghệ HTGR. Lò phản ứng HTGR thử nghiệm 20 MWt, Dragon, với nhiệt độ chất làm mát đầu ra của lò phản ứng là 750°C được xây dựng tại Winfrith, Vương quốc Anh. Đây là HTGR đầu tiên đạt được trạng thái tới hạn, nhưng Dragon đã không được dùng để phát ra điện năng.