Nâng cao độ chính xác của mô hình số bề mặt từ ảnh radar

Nghiên cứu giải pháp nâng cao độ chính xác mô hình số bề mặt từ ảnh radar, góp phần cải thiện ứng dụng trong địa lý và môi trường.

Chuyên ngành

Đo ảnh và Viễn thám

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

159
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Tổng quan về các công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp InSAR xây dựng DSM

1.2.1. Trên thế giới

1.2.2. Ảnh hưởng của khí quyển

1.3. Lịch sử phát triển của SAR

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG MÔ HÌNH SỐ BỀ MẶT (DSM) BẰNG ẢNH RADAR

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA DSM ĐƯỢC THÀNH LẬP BẰNG ẢNH RADAR

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của mô hình số bề mặt từ ảnh radar

Mô hình số bề mặt (DSM - Digital Surface Model) là một công cụ quan trọng trong việc mô tả bề mặt Trái Đất trong không gian 3D. Việc ứng dụng DSM trong nhiều lĩnh vực như thành lập bản đồ địa hình, giám sát tài nguyên môi trường, và phòng chống thiên tai đã cho thấy tầm quan trọng của nó. Tuy nhiên, phương pháp truyền thống để xây dựng DSM thường gặp khó khăn về chi phí và thời gian. Các phương pháp hiện đại như sử dụng ảnh radar và dữ liệu LiDAR đã được phát triển, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức về độ chính xác và chi phí. Đặc biệt, ảnh radar với độ phủ rộng và chi phí thấp đã trở thành một lựa chọn khả thi cho việc xây dựng DSM. Việc nâng cao độ chính xác của DSM từ ảnh radar là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

1.1. Các phương pháp xây dựng DSM

Các phương pháp xây dựng DSM hiện nay bao gồm đo vẽ trực tiếp, ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, và ảnh từ UAV. Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. Phương pháp đo vẽ trực tiếp tốn nhiều thời gian và chi phí, trong khi ảnh vệ tinh và UAV có thể không hoạt động hiệu quả trong điều kiện thời tiết xấu. Ảnh radar, đặc biệt là từ hệ thống SAR (Synthetic Aperture Radar), đã được chứng minh là có khả năng cung cấp dữ liệu chính xác và kịp thời. Việc sử dụng ảnh radar trong xây dựng DSM đã mở ra nhiều cơ hội mới cho nghiên cứu và ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau.

1.2. Độ chính xác trong mô hình số bề mặt

Độ chính xác của DSM phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm kỹ thuật xử lý ảnh, điều kiện khí quyển, và sự không tương quan giữa các ảnh. Phương pháp InSAR (Interferometric Synthetic Aperture Radar) đã được áp dụng rộng rãi để nâng cao độ chính xác của DSM. Tuy nhiên, các yếu tố như độ ẩm trong khí quyển và sự khác biệt về thời gian thu nhận ảnh có thể gây ra sai số lớn. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển các giải pháp để giảm thiểu sai số trong quá trình xử lý ảnh là rất cần thiết.

II. Giải pháp nâng cao độ chính xác của DSM

Để nâng cao độ chính xác của DSM từ ảnh radar, cần tập trung vào việc cải thiện quy trình xử lý ảnh. Các giải pháp như đồng đăng ký ảnh, tạo ảnh giao thoa, và lọc nhiễu pha là những bước quan trọng trong quy trình này. Việc áp dụng các thuật toán như biến đổi wavelet và phương pháp lọc nhiễu oldstein có thể giúp nâng cao chất lượng của DSM. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng các kỹ thuật này có thể giảm thiểu sai số và cải thiện độ chính xác của sản phẩm cuối cùng.

2.1. Kỹ thuật xử lý ảnh

Kỹ thuật xử lý ảnh là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác của DSM. Việc áp dụng các phương pháp như đồng đăng ký ảnh và tạo ảnh giao thoa giúp đảm bảo rằng các ảnh được sử dụng trong quá trình xây dựng DSM là chính xác và đồng nhất. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cải thiện quy trình này có thể giảm thiểu sai số do khí quyển và các yếu tố khác gây ra. Sự phát triển của các phần mềm tự động trong xử lý ảnh cũng góp phần nâng cao hiệu quả và độ chính xác của quy trình này.

2.2. Ứng dụng công nghệ mới

Việc ứng dụng công nghệ mới trong xử lý ảnh radar là một xu hướng quan trọng hiện nay. Các thuật toán như biến đổi wavelet và lọc nhiễu oldstein đã được chứng minh là có khả năng nâng cao độ chính xác của DSM. Những công nghệ này không chỉ giúp cải thiện chất lượng ảnh mà còn giảm thiểu thời gian xử lý. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tích hợp các công nghệ này vào quy trình xây dựng DSM có thể mang lại những kết quả khả quan, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về độ chính xác trong các ứng dụng thực tiễn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong nghiên cứu bề mặt Trái đất hiện nay dữ liệu bản đồ mô hình số bề mặt (DSM) thể hiện được những ưu điểm vượt trội về sự mô phỏng tổng quan chân thực nhất về bề mặt Trái đất, nó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực phục vụ cho công tác điều tra, khảo sát, phát triển kinh tế đất nước cũng như chủ quyền và an ninh quốc phòng. Đặc biệt với những diễn biến cực đoan của biến đổi khí hậu, yêu cầu về sử dụng các sản phẩm dữ liệu địa hình dưới dạng mô hình số phải có độ chính xác cao, đáp ứng nhanh và kịp thời. Cùng với đó là nhu cầu về sử dụng dữ liệu địa hình như là một lượng thông tin không thể thiếu trong xây dựng cơ sở dữ liệu của Hệ thông tin địa lý (GIS), phục vụ cho các nghiên cứu biến dạng sụt lún của bề mặt địa hình; xác định nhanh các vùng ngập lụt do mưa bão, vùng ngập lụt ven bờ do nước biển dâng do biến đổi khí hậu, trong thành lập bản đồ địa hình, bản đồ chuyên đề ở những khu vực thiếu ảnh viễn thám quang học, trong các công đoạn thành lập bản đồ và ứng dụng cho khảo sát, phân tích địa hình, thiết kế, quy hoạch. Để xây dựng DSM của một phần bề mặt Trái Đất trên một diện rộng, với chi phí thấp và trong khoảng thời gian ngắn nhất thì các phương pháp sử dụng tư liệu viễn thám tỏ rõ hiệu quả hơn cả, đặc biệt là sử dụng tư liệu của viễn thám radar - viễn thám siêu cao tần.

Viễn thám Radar (Viễn thám siêu cao tần) là phương pháp viễn thám chủ động hoạt động trong dải siêu cao tần của quang phổ sóng điện từ. Viễn thám Radar sử dụng nguồn năng lượng riêng không phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời, và sóng điện từ có bước sóng dài. Vì thế, nó có khả năng hoạt động cả ban ngày và ban đêm cũng như trong mọi điều kiện thời tiết mà không chịu ảnh hưởng của các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa. RADAR là từ viết tắt của cụm từ Radio Detection And Ranging, với nguyên lý hoạt động dựa trên sự lan truyền của sóng điện từ trong không gian, bản chất là -8- một thiết bị đo khoảng cách hoạt động trong phần vi sóng của phổ điện từ, có bước sóng từ 1mm đến 1m.

Tư liệu ảnh Radar đã được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực điều tra cơ bản, giám sát tài nguyên và môi trường trên bề mặt trái đất. Bên cạnh đó, viễn thám Radar cũng cho khả năng xác định độ cao của các điểm trên bề mặt trái đất. Người ta đã sử dụng ảnh Radar để xây dựng mô hình số bề mặt bằng phương pháp giao thoa để nghiên cứu và xác định sự sụt lún của bề mặt Trái đất, xác định nhanh các vùng ngập lụt do thiên tai, do biến đổi khí hậu, thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ trung bình và nhỏ. Lịch sử phát triển của SAR Khái niệm về Radar độ mở tổng hợp - Synthetic Aperture Radar (SAR) là do Carl Wiley của Tổng công ty Máy bay Goodyear năm 1951 [132] khởi nguồn.

Tại trường Đại học Illinois, một nhóm các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu những thí nghiệm đầu tiên vào năm 1953; sau đó, quân đội Hoa Kỳ đưa dự án Wolverine về chủ đề này đến Đại học Michigan. Đây là khởi đầu của một loạt các hoạt động đóng góp vào sự phát triển của kỹ thuật SAR [42]. Từ cuối năm 1960, NASA đã bắt đầu tài trợ cho sự phát triển của hệ thống SAR cho các ứng dụng về dân sự. Jet Propulsion Laboratory (JPL) đã phát triển cho NASA một bộ cảm biến SAR band-L.

Bộ cảm biến này đã được cài đặt trên tên lửa vào năm 1962 trong các thí nghiệm thực hiện tại các trang web thử nghiệm tên lửa New Mexico. Cảm biến này là cảm biến cuối cùng được cài đặt trên máy bay NASA CV-990 vào năm 1966 và sau đó lại được nâng cấp bởi JPL [42,55]. Viện nghiên cứu môi trường Michigan (ERIM) và JPL đã phối hợp thực hiện các nghiên cứu thử nghiệm Apollo Lunar Sounder, và đã thành công khi thăm dò Mặt Trăng vào năm 1972 trên tàu Apollo 17 [42,55]. Vào năm 1978 lần đầu tiên trên vũ trụ (vệ tinh Seasat - USA) sử dụng SAR và tiếp tục với việc sử dụng SIR - Radar tạo ra ảnh trên tàu con thoi (Shuttle Imaging Radar).

Đầu năm 1991 có 3 vệ tinh mang thiết bị Radar được phóng thành công lên vũ trụ. Đó là Almaz-1 với bộ cảm biến S-band của Liên Xô (cũ), ERS-1 của cơ quan Vũ trụ châu Âu ESA, và JERS-1 với bộ cảm biến kênh L của Nhật -9- Bản. Năm 1995, Radarsat với bộ cảm biến C-band của Canada đã được phóng lên vũ trụ thành công [55]. Việc khai thác các thông tin địa hình sử dụng kỹ thuật Radar giao thoa độ mở tổng hợp (InSAR) được chứng minh lần đầu tiên bởi Graham, 1974 [51].

Với tư liệu sử dụng là ảnh độ phân giải cao khu vực Puerto Rico có hướng nghiêng và góc lệch khoảng 250 đến 450. Ông đã chỉ ra rằng kỹ thuật InSAR với nguyên lý cạnh sườn (side-looking) có thể sử dụng để phục vụ cho thành lập bản đồ địa hình vì hai lý do: - Độ phân giải của ảnh SAR có thể phân biệt được các đối tượng trên bề mặt địa hình cần biểu thị lên bản đồ. - Những điểm đo được bằng phương pháp InSAR có thể mô tả được độ cao và dáng của bề mặt địa hình. Có thể nói rằng, trong những năm 1990, công nghệ vũ trụ đã đạt được những thành công lớn với việc đẩy nhanh ứng dụng của viễn thám Radar cho các nghiên cứu khoa học và ứng dụng.

Sang đến đầu thể kỷ XXI đã có một số vệ tinh Radar có độ phân giải cao được phóng lên quỹ đạo chuyên phục vụ giám sát tài nguyên và biến động lớp phủ trái đất ở mức độ chi tiết hơn đó là ALOS PALSAR của Nhật (2006), ERS-1 (1993), ERS-2 (1995), Envisat (2002) của Châu Âu, TeraSAR X của Đức (2007). Cosmo-Skymed (2010), ALOS PALSAR-2, Sentinel-1… 1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp InSAR xây dựng DSM 1. Trên thế giới Trong những năm gần đây, với sự phát triển của viễn thám Radar thì việc tạo DSM tự động đã trở thành một phần quan trọng của các nghiên cứu.

Nhiều kỹ thuật tạo DSM đã được phát triển, trong đó phương pháp Radar giao thoa (InSAR) là phương pháp đang được nghiên cứu nhiều nhất để tạo DSM phục vụ cho nghiên cứu sạt lở, giám sát hoạt động của núi lửa và theo dõi dịch chuyển bề mặt. Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào dữ liệu cũng như quy trình tạo DSM và các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác của nó, có thể kể là các nghiên cứu của [45,89,90,91,92,93,94,105,106,107]. Trong công bố khoa học của Sefercik [106], - 10 - tác giả đã nghiên cứu tạo DSM từ dữ liệu TerraSAR-X với sai số trung phương về độ cao đạt được là ± 8. Trong các công trình khoa học tiếp theo của mình vào năm 2011, Sefercik cũng nghiên cứu tạo DSM từ các dữ liệu SRTM kênh C và X, và dữ liệu ASTER GDEM.

Kết quả DSM tạo từ ảnh liệu SRTM kênh C có sai số trung phương về độ cao đạt ± 10.69m, từ dữ liệu SRTM kênh X đạt ± 6.59m, từ dữ liệu ASTER GDEM đạt ± 9. Từ các kết quả trên, Sefercik đã kết luận rằng chất lượng của DSM phụ thuộc vào kỹ thuật tạo giao thoa, đặc điểm địa hình của khu vực nghiên cứu và khoảng cách giữa các mắt lưới để tạo DSM. Nikolakopoulos [92], đã thành lập DSM từ các dữ liệu khác nhau như: TerraSAR-X, Sentinel -1 chụp cùng khu vực và tiến hành so sánh đánh giá. Kết quả, DSM tạo từ ảnh TerraSAR-X cho sai số trung phương đạt ±12.35m, và Sentinel - sai số trung phương ±14.

Qua các nghiên cứu, các tác giả kết luận rằng: kỹ thuật tạo giao thoa ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của ảnh giao thoa cũng như sản phẩm cuối cùng là DSM. Độ chính xác của chúng phụ thuộc vào các yếu tố như: ảnh hưởng bởi khí quyển, sự không tương quan về đường đáy ảnh, sự không tương quan giữa hai ảnh. Do vậy để nâng cao độ chính xác của DSM, cần tập trung cải thiện chất lượng của ảnh giao thoa. Hiện nay có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu để cải thiện chất lượng của giao thoa cũng như cải thiện chất lượng của DSM như: Ảnh hưởng của khí quyển Chúng ta biết rằng, điều kiện khí quyển không đồng nhất sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận ảnh ở những thời điểm khác nhau.

Sự lan truyền sóng điện từ trong điều kiện khí quyển khác nhau, làm cho khoảng cách tính được từ vệ tinh tới mặt đất sẽ khác nhau, do thời gian trễ gây ra, khi sóng được truyền trong sự nhiễu loạn của tầng đối lưu và tầng điện ly. Sự không đồng nhất trong khí quyển sẽ tạo ra nhiễu cho pha kết quả và nó sẽ làm giảm chất lượng của ảnh giao thoa. Rất nhiều phương pháp đã được nghiên cứu để giảm ảnh hưởng của khí quyển đến chất lượng giao thoa như nghiên cứu của Hanssen [55, 139]. Theo Hanssen [55], bằng việc sử dụng các tư liệu radar chụp ở các khu vực khác nhau, đã chứng minh được rằng sự biến đổi của nhiệt độ và áp suất dẫn đến - 11 - biến dạng giao thoa ít hơn nhiều so với độ ẩm trong không khí.

Cũng với một chứng minh khác của giáo sư Zebker thì độ ẩm trong khí quyển sẽ ảnh hưởng đến từng loại sóng radar có bước sóng khác nhau ở mức độ khác nhau. Đối với những sóng Radar có bước sóng ngắn từ 3 cm trở xuống thì độ ẩm sẽ ảnh hưởng nhiều đến xung truyền, giao thoa có thể bị nhiễu. Bước sóng từ 6 cm trở lên gần như ít bị ảnh hưởng bởi hơi nước trong khí quyển. Còn trong nghiên cứu của Yun [136] đã sử dụng bóng thám không kết hợp phương pháp GPS để đo độ ẩm và giảm thiểu sai số này.

Tuy nhiên việc đo đạc này cũng không thể làm hết cho nhiều vùng ở trên ảnh được, nên việc sử dụng thêm dữ liệu thời tiết đo ở các trạm mặt đất cũng là một giải pháp được đưa ra. Đối với phần ảnh hưởng bởi độ ẩm ở tầng điện ly, thì việc sử dụng cặp ảnh chụp cùng ở một điều kiện thời tiết như nhau là một giải pháp hữu hiệu, để giảm thiểu sai số do tầng điện ly gây ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nâng cao độ chính xác của mô hình số bề mặt từ ảnh radar" của TS. Đào Ngọc Long và TS. Nguyễn Thị Mai Dung, thuộc Trường Đại học Mỏ - Địa chất, năm 2023, tập trung vào việc cải thiện độ chính xác của các mô hình số bề mặt thông qua việc sử dụng công nghệ ảnh radar. Bài viết không chỉ cung cấp những phương pháp và kỹ thuật tiên tiến trong lĩnh vực đo ảnh và viễn thám mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao độ chính xác trong các ứng dụng thực tiễn, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về các giải pháp hiện có và tiềm năng phát triển trong nghiên cứu này.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm máy lạnh hấp phụ mặt trời, nơi cũng đề cập đến các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực kỹ thuật và môi trường. Bên cạnh đó, Ảnh hưởng của rung siêu âm đến khả năng điền đầy và cơ tính hợp kim nhôm khi đúc cũng là một nghiên cứu thú vị liên quan đến công nghệ chế tạo và độ chính xác trong sản xuất. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu ảnh hưởng của thông số kim phun đến tính năng động cơ diesel RV1252, một nghiên cứu khác trong lĩnh vực kỹ thuật cơ khí, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất trong ngành công nghiệp.